Cá trôi Ấn độ Labeo rohita  

1. Nguồn gốc, phân bố

    Tên chính thức: Labeo rohita Hamilton 1882.

    Phận bố: Phân bố tự nhiên ở hệ thống sông Hằng và phía Bắc Ấn Độ.

    Cá được Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 nhập vào Việt nam từ năm 1982 theo chương tŕnh di giống của Uỷ ban quốc tế sông Mêkông và cho sinh sản nhân tạo thành công năm 1984, hiện nay đă trở thành một trong các đối tượng nuôi phổ biến ở nước ta.

 

2. Năm nghiên cứu

Cá trôi Ấn độ chủ yếu chỉ được sử dụng trong chọn giống có chất lượng cao và nuôi làm cá thương phẩm.

Tái tạo quần đàn năm: 2001, 2003.

 

3. Mô tả h́nh thái

            Thân cân đối, dẹp bên, thuôn dần về phía đuôi. Đầu múp, dài vừa phải. Mơm tù, hơi nhô ra, không có đường gấp nếp. Miệng ở phía trước và kế dưới, h́nh ṿng cung. Rạch miệng nông, chỉ tối đường thẳng giữa mơm và mũi. Viền môi trên và dưới phủ lớp thịt có tua khía hoặc gai thịt xếp thành hàng. Hàm dưới phủ chất sừng. Môi dưới và hàm dưới có rănh ngăn cách. Rănh sau môi hoàn toàn và liên tục. Có hai đôi râu, một đôi râu nhỏ ở góc hàm và một đôi râu mơm rất nhỏ ( theo Khan và Jhingran, 1975 cá chỉ có một đôi râu nhỏ ở góc hàm). Mắt vừa phải, nằm ở hai bên và phần trước của đầu. Khoảng cách mắt rộng, khum. Đỉnh đầu nhẵn.Lỗ mũi ở gần mắt hơn mút mơm. Màng mang hẹp, liền với eo. Rănh hầu h́nh vát chéo. Lược mang h́nh kim, ngắn. Khởi điểm vây lưng trước khởi điểm vây bụng, gần mút mơm hơn gốc vây đuôi, viền sau hơi lơm. Vây ngực nhọn chưa tới vây bụng. Vây bụng chưa tới vây hậu môn. Vây hậu môn tới gốc vây đuôi. Vây đuôi phân làm hai thuỳ bằng nhau. Lỗ hậu môn ngay trước vây hậu môn. Đường bên hoàn toàn, hơi cong xuống ở 5 vẩy phía trước, sau đó chạy thẳng giữa thân đến cuống đuôi. Vẩy tṛn, vừa phải xếp chặt chẽ trên thân. Bụng và sống lưng đều phủ vẩy. Gốc vây lưng có phủ vẩy nhỏ. Gốc vây bụng có vẩy nách rất nhỏ.  

Lưng màu xanh thẫm, hông và bụng trắng bạc. Phần trên đầu có màu xám, bụng trắng. Môi và mơm trắng. Viền mắt đỏ, các vây xám nhạt. Mùa phát dục trên mỗi vẩy thường có một đốm đỏ. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu môn và vây đuôi có màu hồng, vây lưng chỉ phớt hồng.

  

4. Đặc điểm h́nh thái

D 3, 12-13.

A 2-3,5.

P 1,16

V 1,8

C 19

L.l 40(7/5)42.

GR = 78

Răng hầu ba hàng 5.4.3-3.4.5. Số que mang ở cung mang thứ nhất là 20+58 =78.

Vẩy dọc cuống đuôi 10; vẩy trước vây lưng 13-14; vẩy ṿng quanh cuống đuôi 20.

Chiều dài thân bằng 4,2-4,7 lần chiều cao thân, gấp 4,5-5,0 lần chiều dài đầu. Chiều dài đầu gấp 4,2-4,7 lần đường kính mắt, gấp 1,6-2,0 lần chiều dài mơm, gấp 2,6-3,5 lần khoảng cách mắt.

 

5. Đặc điểm sinh học, sinh trưởng, sinh sản 

5.1 Đặc điểm sinh học

    Cá trôi Ấn Độ là loài cá sống ở gần đáy, thích ở nơi nước ấm. Giai đoạn nhỏ cá ăn động vật phù du cỡ nhỏ như động vật nguyên sinh, trùng bánh xe, tảo đơn bào, giáp xác chân chèo, bọ kiếm, kể cả ấu trùng côn trùng. Cá c̣n có thể ăn các loại thức ăn nhân tạo như cám, khô dầu, bột cá... Giai đoạn trưởng thành cá ăn mùn bă hữu cơ, nhất là mùn bă hữu cơ thực vật. Trong ao nuôi thương phẩm cá c̣n ăn cám gạo, hạt cốc cũng như các loại bèo dâu, bèo tấm.

    Tốc độ tăng trọng của cá trôi Ấn Độ nhanh ở giai đoạn trưởng thành đặc biệt lớn nhất ở tuổi thứ 2 khi cá chín sinh dục lần đầu. Cá nuôi 1 năm đạt 0,6-0,8kg; 2 năm đạt 1,5-1,8kg.

    Một số chỉ tiêu sinh học chủ yếu của cá trôi ấn độ nuôi tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1

 

Các chỉ tiêu

Cá bột 3-4 ngày tuổi

Cá hương

Cá giống

Cá trưởng thành

Ngưỡng nhiệt độ

 - Cao

 - Thấp

Ngưỡng ôxy (mg/L)

Nhu cầu ôxy (mg O2/kg/h)

Nồng độ muối NaCl

 

37,5-38,5

14,5-15

0,32

876

14

 

42-42,5

13-13,5

0,32

638-726

15

 

42-43

12-13,5

0,48-0,6

271-360

15,5-16,9

 

42,5-43

12-13

0,48

250-350

15,4-17,1

 

5.2 Đặc điểm sinh trưởng, sinh sản

      Cá trôi ấn độ chịu được nhiệt độ cao dẫn đến kết quả tất yếu là cá tăn trọng nhanh vào mùa hè, chậm lớn vào mùa đông (Theo như kết quả thu được khi nuôi cá trôi ấn độ ở Viện NCNT Thuỷ sản 1 cho thấy vào mùa hè mỗi tháng cá trôi ấn độ tăng trọng 17-220%, trong khi đó vào mùa đông mỗi tháng chỉ tăng 0,75%).

     Ở điều kiện bịnh thường th́ rất khó phân biệt cá trôi đực và cái theo h́nh dạng bên ngoài. Chỉ khi cá phát dục mới có thể phân biệt được chúng: Cá cái có bụng to căng, lỗ huyệt sưng và có màu hồng; cá đực có sẹ màu trắng sữa chảy ra khhi ta vuốt xuôi nhẹ hai bên bụng cá. Vào mùa sinh trưởng c̣n có thể t́m thấy sự sai khác về giới tính của trôi ấn độ: Trong khi ở cá cái vây ngực thường nhỏ hơn hoặc bằng vây hậu môn và trơn nhẵn, th́ ở cá đực vây ngực thường to hơn vây hậu môn và nhám. Có thể nhờ vây ngực nhám như vậy mà con đực có thể kẹp chặt con cái trong lúc giao phối (Chauhuri, 1959).

     Theo lời các chuyên gia Ấn Độ th́ cá trôi ấn độ thành thục vào cuối năm tuổi thứ 2. Tuyến sinh dục của cá bắt đầu phát triển vào cuối tháng 2; lúc này đă  có thể phân biệt được cá đực , cá cái về ngoại h́nh. Đầu tháng 3 khi giải phẫu cá, độ thành thục của buồng trứng đang ở giai đoạn III. Từ tháng 3-4 đến đầu tháng 5 tuyến sinh dục lớn rất nhanh và đạt độ chín muồi vào trung tuần tháng 5 và tháng 6. Mùa vụ sinh sản của cá là từ tháng  5, 6 đến tháng 8,9. Đến cuối tháng 9 tuyến sinh dục của cá thoái hoá và chấm dứt thời kỳ phát dục trong mùa sinh sản.

.    Cá thành thục ở 1 tuổi với kích cỡ tương đương 25cm. Tuy nhiên, Tuổi thành thục của cá trôi ấn độ có thể thay đổi. Ở Trại thực nghiệm Thủ Đức và Cái Bè cá trôi Ấn Độ thành thục lần đầu ở 10 tháng tuổi và kích thước nhỏ nhất là 25cm. Ở Bangladesh, cá trôi Ấn Độ lại thành thục lần đầu rất muộn ở tuổi 3-4 (Alikunhi, 1957). Trứng cá trôi Ấn Độ thuộc loại trứng không dính và không nổi. Khan (1934) là người đầu tiên công bố số lượng trứng của cá trôi Ấn Độ. Theo Khan (1934) Cá trôi Ấn Độ có sức sinh sản lớn, cá cái nặng 4,5kg có 1.905.000 trứng, nghĩa là cứ 1g cơ thể cá có 419 trứng. Tuy nhiên, theo một chuyên gia khác về cá trôi Ấn Độ là Alikunhi th́ một buồng trứng có khoảng 226.500-2.794.000 trứng tuỳ theo cỡ cá.  

Mối quan hệ giữa trọng lượng cơ thể, trọng lượng buồng trứng và số lượng trứng ở cá trôi Ấn Độ như sau:

Chiều dài của cá (cm)

Trọng lượng cá (kg)

Trọng lượng buồng trứng

Sức sinh sản tuyệt đối

Sức sinh sản tương đối

Số lượng trứng trong 1g buồng trứng

Tỷ lệ trọng lượng buồng trứng/trọng lượng cơ thể (%)

51

1,75

0,300

369.000

211

1230

17

54,5

1,50

0,300

289.500

193

965

20

57,3

2,00

0,250

226.500

113

906

12,5

57,5

2,50

0,500

758.000

303

1526

20

61

2,25

0,262

268.500

109

1025

11,6

62

2,70

0,500

764.250

283

1528

18,5

69

2,50

0,450

335.925

134

747

18,0

73

6,75

2,000

2.749.000

413

1397

29,6

                                                                                    (theo Alikunhi, 1957)     

    Tuy nhiên, theo các tài liệu hiện có th́ cá trôi Ấn Độ chỉ có thể tự đẻ ở ngoài sông và các hồ chứa lớn. Cá trôi Ấn Độ không thể tự đẻ trong ao hồ nhỏ nếu không tiêm kích dục tố cho cá để kích thích sinh sản. Bái đẻ tự nhiên của cá trôi Ấn Độ thường gặp ở giữa và dọc theo sông, nơi có nước chảy mạnh, nền đáy của các băi đẻ rất đa dạng (đất mềm, đất sét cứng, cát hoặc đá sỏi)                                                                                                                          

6. Các nghiên cứu về di truyền

            Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n là 50

            Công thức kiểu nhân: 16m + 10sm + 14st + 10t; NF = 76.

Qua phân tích các mẫu huyết thanh, mô tim, mô cơ, mô gan, mô mắt nhóm tác giả Hồ Kim Diệp, Nguyễn Thị Tần, Vũ Văn Phú (2001) kết luận:

    + Phổ điện di izozym Esterase huyết thanh của chúng có 1 cấu tử điện di (110).

    + Phổ điện di izozym Esterase mô tim của chúng có 1 cấu tử điện di (100).

    + Phổ điện di izozym Esterase mô gan của cá có 3 cấu tử điện di (50); (100); (150) hoặc 2 cấu tử điện di (100); (150).

    + Phổ điện di izozym Esterase mô mắt có 2 cấu tử điện di (100); (150).

    +Phổ điện di izozym Esterase mô cơ có 3 cấu tử điện di (50); (100); (150).

 

7. Giá trị bảo tồn, lưu giữ

    Cá ăn tạp, phổ thức ăn rộng, dễ nuôi, lớn nhanh. Đây là giống cá nuôi tốt, tham gia vào quần đàn cá nuôi ở Việt Nam và cho sản lượng cá thịt đáng kể.

    Việc lưu giữ đàn cá bố mẹ thuần nhằm mục đích tái tạo lai quần đàn trong tương lai, bảo tồn nguồn gen tránh sự lai tạp mất đi nguồn gen gốc.

 

8. Tài liệu tham khảo

Trần Văn Vỹ, 1999. Kỹ thuật nuôi cá Trôi Ấn Độ. NXBNN.

Hội thảo về di giống-thuần hoá cá nhập nội, 1988.

Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, 1993. Tuyển tập các công tŕnh nghiên cứu (1988-1992). NXBNN.

Hồ Kim Diệp và ctv., 2001. Kết quả nghiên cứu một số hệ izozym trên các loài cá lưu giữ tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1. TLLT.

 

Đây mới chỉ những kết quả bước đầu nghiên cứu, các nghiên cứu tiếp sau sẽ được thường xuyên cập nhật.