Pháp luật Việt Nam về Bảo tồn các nguồn gen

Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

PGS. T.S. Đoàn Năng - Vụ trưởng Vụ PC-  Bộ KN&CN 

Việt Nam là một trong những nước rất phong phú, đa dạng về các hệ sinh thái, về các loài và về tài nguyên di truyền. Hàng ngàn năm qua và ngay cả hiện nay cũng như một số thập kỷ sắp tới người dân Việt Nam sống chủ yếu phải dựa vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh học. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các nước trên thế giới, các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản v.v... thực chất là khai thác từ nguồn đa dạng sinh học.

Ngày nay tất cả các nước trên thế giới và cả Việt Nam đều ư thức được giá trị to lớn về kinh tế, khoa học, văn hoá, xă hội của đa dạng sinh học đối với sự phát triển hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia và của toàn thể xă hội loài người; đồng thời cũng ư thức được trách nhiệm nặng nề dối với việc bảo vệ sự đa dạng sinh học trong bối cảnh da dạng sinh học ở nhiều nơi trên lănh thổ mỗi quốc gia và trên toàn cầu đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Cho đến nay, đông đảo các quốc gia đă phê chuẩn Công ước toàn cầu về đa dạng sinh học và xây dựng kế hoạch quốc gia về bảo vệ sự da dạng sinh học.

Bảo tồn các nguồn gien động vật, thực vật và vi sinh vật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá tŕnh bảo vệ sự đa dạng sinh học ở mỗi quốc gia.

Trong phạm vi bài này, tôi tập trung tŕnh bày một số ư kiến về thực trạng và phương hướnghoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lư và bảo tồn các nguồn gien.

1. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ các nguồn gien

1.1. Giai đoạn trước năm 1996

Hoạt động quản lư và bảo tổn các nguồn gien động vật và thực vật và vi sinh vật luôn luôn là điều kiện bảo đảm hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và các hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học. Nhưng ngược lại cũng có thể nói, thực chất hiệu quả các hoạt động bảo vệ và phát triền nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và kiềm dịch thực vật, về thú y, về bảo vệ môi trường, đặc biệt là về bảo tồn đa dạng sinh học, đều tác động tích cực, góp phần bảo tồn các nguồn gien động vật, thực vật và vi sinh vật.

Các văn bản pháp luật về các hoạt động nêu trên đều có đề cập hoặc trực tiếp hoặc gián tiếpđến vấn đề bảo vệ các nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật.

1.1.1. Trong lĩnh vực bảo vệ và phát các nguồn Jợi thuỷ sản

Các văn bản pháp luật về bảo vệ và pháp triển các nguồn lợi thuỷ sản khẳng định:

- Các tổ chức, cá nhân có quyền khai thác nguồn lợi thuỷ sản thiên nhiên theo quy định của pháp luật, được giao sử dụng các ống nước ổn định lâu dài hoặc có thời hạn để nuôi trồng, khai thác thuỷ sản với các h́nh thức phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản;

- Nghiêm cấm các hành vi gây hại đến nguồn lợi, môi trường sống của các loài thuỷ sản, đến bảo vệ và phát triền nguồn lợi thuỷ sản;

- Nghiêm cấm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, gây ô nhiễm môi trường sống của các loài thuỷ sản;

- Cấm đánh bắt ở các khu vực băi đẻ, nơi sinh sống tập trung của các loài thuỷ sản thời kỳ c̣n bé, có sức bổ sung lớn cho nguồn lợi cho khu vực;

- Cấm đánh bắt, tổ chức tiêu thụ các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, quư hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng trong danh mục các đối tượng được bảo vệ;

- Việc nhập các giống thuỷ sản mới vào Việt Nam và việc di giống, thuần hoá giống do Bộ Thuỷ sản quy định;

- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuỷ sản được hưởng lợi ích vật chất do công sức của ḿnh làm ra, được quyền chuyển nhượng, bán thành quả lao động, giá in công sức của ḿnh và có trách nhiệm bảo vệ, phát triển nguồn lợi thuỷ sản, nộp thuế và làm các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, các văn bàn pháp luật trong lĩnh vực này c̣n quy định rơ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước các cấp, của mọi tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản; quy định các biện pháp thưởng, phạt trong việc chấp hành các quy định của nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

1.1.2.  Trong lĩnh vực bảo vệ và phát triến rừng

Các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng khẳng định những nội dung chủ yếu sau đây:

- Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ bảo vệ và phát triền rừng, bảo vệ môi trường sinh thái;

- Nghiêm cấm mọi hành vi huỷ hoại tài nguyên rừng;

- Giao rừng cho các cơ quan trung ương, các Uỷ ban nhân dân các cáp quản lư; giao cho cả các tồ chức kinh tế, tổ chức xă hội, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và cả cá nhân theo quy hoạch và kế hoạch của nhà nước;

- Quy định trách nhiệm bảo vệ rừng:

+ Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức quản lư, bảo vệ, pḥng, chống vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện các biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển thực vật rừng, động vật rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất rừng, chóng xói ṃn;

+ Việc khai thác các thực vật rừng, động vật rừng phải theo quy định của nhà nước về quản lư, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng;

+ Nghiêm cấm hành vi phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái phép, chăn thả gia súc trái quy đinh;

+ Chủ rừng phải pḥng, chống cháy rừng và chịu trách nhiệm về việc gây ra cháy rừng, phải thực hiện các biện pháp pḥng, trừ sâu bệnh gây hại rừng;

+ Tiến hành các hoạt động trong rừng dài ngày hoặc có thể gây hại th́ phải được phép của chủ rừng, gây hại th́ phải bồi thường;

+ Việc xuất khẩu thực vật, động vật rừng phải được phép của Bộ NN & PTNT;

+ Việc nhập giống thực vật, động vật rừng phải bảo đảm nguyên tắc sinh học, tuân thủ quy định về kiểm dịch, không được gây hại cho hệ sinh thái và phải được Bộ NN&PTNT cho phép;

- Đối với rừng đặc dụng:

Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, bảo tồn nguồn ghen thực vật, động vật rừng, phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch; có quy chế rừng đặc dụng, ai muốn tiến hành hoạt động trong rừng đặc dụng phải xin phép Ban quản lư khu rừng và phải tuân theo quy chế, khi cần lấy mẫu thực vật, động vật, khoáng sản trong rừng để nghiên cứu khoa học th́ phải được cơ quan quản lư nhà nước về lâm nghiệp có thẩm quyền cho phép.

- Đối với rừng sản xuất:

Các cơ quan lâm nghiệp trung ương và địa phương có trách nhiệm quy hoạch và xây dựng hệ thống rừng quốc gia và khu vực để chọn, lai tạo, nhân giống, nhập nội các giống cần thiết để phối giống cho sản xuất; việc khai thác các loại đặc sản ở rừng sản xuất cũng như ở các rừng khác phải tuân theo quy định của nhà nước về quản lư, bảo vệ, phát triển và sử dụng đặc sản rừng;

- Chủ rừng có các quyền lợi và nghía vụ sau đây:

+ Sử dụng ồn định lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch, chủ động sản xuất, kinh doanh theo pháp luật;

+ Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư, đề thừ kế, chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư theo quy định của pháp luật;

+ Được đền bù, bồi hoàn khi bị thu hồi rừng, đất trồng rừng;

+ Được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ về vốn, hưởng lợi ích do công tŕnh công cộng bảo vệ, cải tạo rừng, đất trồng rừng mang lại;

+ Được nhà nước bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp trên diện tích rừng v.v

1.1.3. Trong lĩnhl vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật

Các văn bản pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật quy định các biện pháp pḥng và trừ sinh vật găy hại đối với tài nguyên thực vật, kiểm dịch thực vật và quản lư thuốc bảo vệ thực vật:

- Nhà nước đầu tư, khuyến khích các tồ chức, cá nhân đầu tư cho việc pḥng, trừ sinh vật gây hại cho tài nguyên sinh vật, sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật;

- Nghiêm cấm mọi hành vi gây hại cho tài nguyên sinh vật, sức khoẻ nhân dân và môi trường sinh thái;

- Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, chủ tài nguyên thực vật trong việc pḥng, trừ sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật;

- Quy định các biện pháp, tŕnh tự, thủ tục, quyền, trách nhiệm trong kiểm dịch thực vật;

- Nghiêm cấm việc đưa vào Việt Nam hoặc làm lây lan giữa các vùng trong nước đối tượng kiểm dịch thực vật thuộc danh mục đă công bố hoặc sinh vật gây hại nguy hiểm khác;

+ Quy định các điều kiện, thủ tục sản xuất kinh doanh, quản lư thuốc bảo vệ thực vật;

+ Quy định các biện pháp thưởng, phạt trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

1.1.4.  Trong lĩnh vực thú y

Các văn bản pháp luật về thú y quy định các biện pháp pḥng chống dịch bệnh cho động vật, kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ động vật và kiểm tra vệ sinh thú y các thực phầm từ động vật, quản lư thuốc và giống vi sinh vật dùng trong thú y.

Kiểm dịch động vật được quy định ở đây dược tiến hành đối với cả động vật hoang dă và động vật nuôi. Trong công tác thú y có kết hợp giữa khoa học hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền.

Pháp luật quy định rơ trách nhiệm của các cơ quan, tồ chức, cá nhân, của chủ vật nuôi, của người vận chuyền trong việc pḥng và trừ dịch bệnh cho động vật, các h́nh thức và biện pháp thưởng, phạt trong việc chấp hành pháp luật về thú y.

1.1.5. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Hàng loạt văn bản về bảo vệ môi trường được ban hành, trong đó có các quy định về bảo vệ sự đa dạng sinh học: năm 1985 chiến lược bảo tồn quốc gia được soạn thảo; năm 1991, kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000 được Chính phủ thông qua; sau khi Nhà nước ta phê chuẩn Công ước quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học, năm1995 Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam v.v...Cùng với các chiến lược và kế hoạch này, các vấn đề về tổ chức bộ máy bảo đảm thực hiện cũng được giải quyết, trong đó có việc thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ở trung ương và các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường ở các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.

Trong nội dung của các biện pháp, chiến lược, kế hoạch nêu trên đều có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp khẳng định việc cần thiết bảo tồn các nguồn gien.

Vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn các nguồn gien nói riêng được thể hiện ở những mức độ và dưới các h́nh thức khác nhau trong rất nhiều văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong số các văn bản đang hiện hành về hoặc liên quan đến việc bảo tồn các nguồn gien, trước hết phải kể đến Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, nghị định số 175/CP hướng dẫn thi hành Luật và hàng loạt văn bản dưới luật do các ngành, địa phương ban hành về bảo vệ môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống loài thực vật, động vật hoang dă, bảo vệ tính đa dạng sinh học (tức là bảo vệ sự phong phú về nguồn gien, về giống loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên); việc khai thác các nguồn lợi sinh vật phải theo đúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và bằng công cụ, phương tiện đă được quy định, bảo đảm sự hồi phục về mật độ và giống loài sinh vật, không làm mất cân bằng sinh thái.

Luật Bảo vệ môi trường khẳng định sinh vật, các hệ sinh thái là một trong các thành phấn môi trường và phải được bảo vệ. Thực chất bảo vệ tất cả các thành phần của môi trường như đất, nước, không khí, rừng, núi, sông, hồ, biển, các khu bảo tồn thiên nhiên v.v... đều góp phần vào việc bảo vệ sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, và cũng có nghĩa là bảo vệ sự phong phú các nguồn gien.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ một trường chỉ nhằm cụ thể hoá các quy định của Luật và bảo đảm việc thực hiện các quy định của Luật, trong đó có các quy định về bảo vệ sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái.

Trong hệ thống các quy định về bảo vệ sự đa dạng sinh học, đặc biệt cần khẳng định vai tṛ của "Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam" được phê duyệt bởi Quyết định số 845/TTg ngày 22/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ.

Bản kế hoạch đă đánh giá một cách rất khách quan thực trạng công tác bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam.

Mục tiêu lâu dài của kế hoạch là bảo vệ đa dạng sinh học phong phú và đặc sắc của Việt Nam trong khuôn khổ phát triền bền vững.

Mục tiêu trước mắt là bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam, các hệ sinh thái nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp hay huỷ hoại do hoạt động kinh tế của con người, bảo vệ các bộ phận của đa dạng sinh học đang bị đe doạ do khai thác quá mức hay bị lăng quên, phát huy và phát hiện các giá trị sử dụng của các bộ phận đa dạng sinh học trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tài nguyên, phục vụ các mục tiêu kinh tế của đất nước.

Nội dung chính của kế hoạch bao gồm một loạt biện pháp về: Chính sách và pháp luật; Xâydựng và quản lư các khu bảo vệ; Nâng cao nhận thức chung; Tăng cường tiềm lực, đào tạo cán bộ. Nghiên cứu khoa học; Giải quyết các vấn đề kinh tế - xă hội của kế hoạch; Hợp tác quốc tế.

Trong nội dung các biện pháp này đặc biệt cần lưu ư những vấn đề sau đây:

- Xây dựng các ngân hàng gien thực vật, vật nuôi, vi sinh vật;

- Cung cấp vật liệu di truyền cho công tác lai tạo, tuyển chọn giống phục vụ các mục tiêu kinh tế đồng thời bảo hiểm cho các nguồn gien trong tự nhiên;

- Tăng cường năng lực cho các vườn thú là nơi tham quan, đào tạo, giáo dục ư thức môi trường chung, nghiên cứu khoa học, bảo tồn những loài hoang dại đang có nguy cơ tuyệt chủng và khi có điều kiện, cung cấp trở lại những loài này cho các khu bảo vệ thiên nhiên;

- Tăng cường các biện pháp bảo vệ da dạng sinh học nông nghiệp, phát huy h́nh thức bảo tồn nông trại" thu hút người nông dân tham gia nhiệm vụ bảo vệ chung, đặc biệt chú ư giữ ǵn những giống cây/con cổ truyền đă thích nghi lâu đời với điều kiện địa lư và khí hậu địa phương, rất phổ biến ở các vùng khác nhau của đất nước. Ngoài các văn bản pháp luật nêu trên, c̣n có một số văn bản chuyên ngành về bảo tồn, lưu giữ, sử dụng nguồn gien và giống động thực vật và vi sinh vật đă được Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành (Ví dụ Quyết định số 582/NSY ngày 2/11/1987 quy định tạm thời về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan bảo tồn, lưu giữ, sử dụng nguồn gien và giống động thực vật và vi sinh vật).

1.2. Giai đoạn từ năm 1996 đến khi ban hành Pháp lệnh Giống cây trồng, Pháp lệnh Giống vật nuôi

Trong giai đoạn này, các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triền nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y, về bảo vệ môi trường, đặc biệt là về bảo tồn đa dạng sinh học, tiếp tục từng bước được hoàn thiện, tiếp tục trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập và tác động đến việc bảo tồn các nguồn gien động thực vật và vi sinh vật. Song trong giai đoạn này, pháp luật về bảo tồn các nguồn gien động thực vật và vi sinh vật có bước phát triển đáng ghi nhớ. Cụ thể là năm 1996 là năm ban hành Nghị định số 07/CP ngày5/2/1996 của Chính phủ về quản lư giống cây trồng, Nghị định số 14/CP ngày 19/3/1996 của Chính phủ về quản lư giống vật nuôi. Đây là lần đầu tiên vấn đề bảo tồn các nguồn gien động vật nuôi và cây trồng được quy định một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành cấp Chính phủ. Năm 2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2001/NĐ-CP (ngày 20/4) về bảo hộ giống cây trồng mới.

Nhiều văn bản cấp Bộ, ngành hướng dẫn thi hành các Nghị định nêu trên cũng được ban hành.

Nghị định số 07/CP ngày 5/2/1996 của Chính phủ về quản lư giống cây trồng khẳng định:

 - Nguồn gien (nguồn thực liệu) để chọn tạo giống là tài sản quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lư, bảo quản tại các cơ quan nghiên cứu khoa học được chỉ định;

- Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân t́m kiếm khai thác, sử dụng, trao đổi, bảo vệ và làm phong phú thêm nguồn gien có lợi cho quốc kế dân sinh;

- Bộ NN&PTNT quy định danh mục các nguồn gien quư hiếm và quy chế quản lư việc trao đổi, khai thác, sử dụng nguồn gien trong danh mục này;

- Bộ NN&PTNT quy định danh mục giống cay trồng quư hiếm và nguồn thực liệu tạo giống không được xuất khẩu ra nước ngoài và công bố trong từng thời kỳ;

- Bộ NN&PTNT thực hiện quản lư việc sưu tập, bảo tồn quỹ gien, nghiên cứu, chọn tạo giống, khảo nghiệm, sản xuất thử, công nhận giống mới, sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu kiểm định, kiểm nghiệm, kiểm dịch, quản lư chất lượng giống cây trồng và cótrách nhiệm tổ chức chỉ đạo các hoạt động về giống cây trồng trong phạm vi cả nước;

- Bộ NN&PTNT tŕnh Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ quản lư nguồn gien, xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam về giống cay trồng để tŕnh cơ quan có thẩm quyền ban hành .v.v..

Nghị định c̣n quy định rơ trách nhiệm của các cơ quan chính quyền các cấp, của các tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, quyền của người tạo giống cây trồng mới được đăng kư với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường để được giữ bản quyền theo quyđịnh của pháp luật.

Nghị định số 14/CP ngày 19/3/1996 của Chính phủ về quản lư giống vật nuôi khẳng định:

- Nhà nước thống nhất quản lư giống vật nuôi bao gồm việc bảo hộ, bồi dục, phát triển tài nguyên giống, quản lư sản xuất kinh doanh giống và xuất nhập khẩu giống;

- Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bảo tồn nguồn gien giống vật nuôi;

- Đào tạo cán bộ chuyên ngành làm nhiệm vụ bảo tồn nguồn gien giống vật nuôi, chọn tạo, khảo nghiệm, sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi; - Bộ NN & PTNT, Bộ Thuỷ sản theo chức năng, quyền hạn của ḿnh quy định danh mục giống vật nuôi để bảo tồn, chọn lọc, bồi dục, sản xuất giống và quyết định bổ sung hoặc loại bỏ các giống vật nuôi trong danh mục khi cần thiết.

Sau khi ban hành 02 văn bản cấp Chính phủ về quản lư giống cây trồng và về quản lư giốngvật nuôi, ngày 30/12/1997 Bộ KHCN&MT (nay là Bộ KHCN) đă ban hành Quy chế quản lư và bảo tồn nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật nói chung.

Quy chế quản lư và bảo tồn nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật ngày 30/12/1997khẳng định:

- Nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật là tài nguyên quốc gia, là bộ phận hợp thành quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, phục vụ nghiên cứu và phát triển khoa học và kinh tế của các ngành;

- H́nh thức bảo tồn bao gồm: insitu, exsitu, on-fann, invivo, invitro;

- Ưu tiên bảo tồn, lưu giữ các nguồn gien quư, hiếm, đặc thù của Việt Nam và đang có nguy cơ bị mất;

- Đối tượng bảo tồn, lưu giữ c̣n bao gồm các nguồn gien đă được đánh giá các chỉ tiêu sinh học, các nguồn gien cần cho công tác nghiên cứu, lai tạo giống và phục vụ đào tạo, các nguồn gien được nhập từ nước ngoài đă được ổn định và thuần hoá ở Việt Nam, có ư nghĩa quan trọng trong sản xuất.

Quy chế này c̣n quy định cả nội dung công tác quản lư về bảo tồn, lưu giữ các nguồn gien, hệ thống các cơ quan tham gia bảo tồn, lưu giữ các nguồn gien, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và nguồn tài chính cho công tác này.

1.3. Pháp lệnh giống cây trồng và Pháp lệnh Giống vật nuôi

1.3.1. Pháp lệnh Giống cây trồng

Pháp lệnh Giống cây trồng được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 24/3/2004, quyđịnh về quản lư và bảo tồn nguồn gien cây trồng, nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, công nhận, bảo hộ giống cây trồng mới; b́nh tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu ḍng, vườn giống, rừng giống; sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; quản lư chất lượng giống cây trồng. Theo Pháp lệnh Giống cây trồng:

- Một trong những nguyên tắc hoạt động về giống cây trồng là bảo tồn và khai thác hợp lư nguồn gien cây trồng, bảo đảm tính đa dạng sinh học, kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bảo đảm lợi ích chung của toàn xă hội;

- Ưu tiên đầu tư cho các hoạt động sau đây:

+ Nghiên cứu, chọn, tạo giống cây trồng mới, duy tŕ hạt giống tác giả;

+ Bảo tồn cây mẹ, cây đầu ḍng, vườn giống, rừng giống;

+ Điều tra, thu thập, bảo tồn nguồn gien cây trồng quư hiếm.

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tồ chức, cá nhân đầu tư vào việc thu thập, bảo tồn nguồn gien, nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, kiểm định, kiểm nghiệm, sản xuất, kinh doanh giống cây trồng;

- Khuyến khích hoạt động khuyến nông, khuyên lâm, khuyến ngư nhằm chuyển giao nhanh tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến về giống cây trồng, gắn nghiên cứu với sản xuất;

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nhân, giữ giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng, cây mẹ, cây đầu ḍng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống;

- Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:

+ Sản xuất, kinh doanh giống không có trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất kinh doanh;

+ Phá hoại, chiếm đoạt nguồn gien cây trồng, xuất khẩu trái phép nguồn gien cây trồng quư hiếm;

+ Nhập khẩu nguồn gien cây trồng, sản xuất, kinh doanh giống cây trồng gây hại đến sản xuất và sức khoẻ con người, môi trường, hệ sinh thái;

+ Xâm phạm quyền và lợi ích của tác giả giống cây trồng, của chủ sở hữu Văn bằng bảo hộ giống cây trồng mới .v.v..

Pháp lệnh quy định rơ nguồn gien cây trồng là tài sản quốc gia do Nhà nước thống nhất quảnlư; Nguồn gien cây trồng ở khu bảo tồn của Nhà nước khi có nhu cầu khai thác, sử dụng phải được phép của Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản; các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào việc quản lư nguồn gien cây trồng tại địa phương. Nội dung bảo tồn nguồn gien cây trồng bao gồm:

- Điều tra, thu thập nguồn gien phừ hợp với tính chất và đặc điểm của từng loài cây;

- Bảo tồn lâu dài và an toàn nguồn gien đă được xác định phù hợp với đặc tính sinh học cụ thể của từng loài cây; Đánh giá nguồn gien theo các chỉ tiêu sinh học và giá trị sinh trưởng;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tư  liệu nguồn gien cây trồng.

Nhà nước đầu tư và hỗ trợ việc thu thập, bảo tồn nguồn gien cây trồng quư hiếm, xây dựng cơ sở lưu giữ nguồn gien cây trồng quư hiếm, bảo tồn nguồn gien cây trồng quư hiếm tại địa phương. Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ Sản định kỳ Công bố danh mục nguồn gien cây trồng quư hiếm cần bảo tồn.

Việc trao đổi nguồn gien cây trồng quư hiếm để phục vụ nghiên cứu, chọn, tạo và sản xuất, kinh doanh cây trồng mới phải theo quy định của Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản.

Việc trao đổi quốc tế nguồn gien cây trồng quư hiếm phải được phép của Bộ NN&PTNT, Bộ thuỷ sản.

1.3.2. Pháp lệnh Giống vật nuôi

Pháp lệnh Giống vật nuôi được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 24/3/2004, quy định về quản lư và bảo tồn nguồn gien vật nuôi, nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, kiểm định, công nhận giống vật nuôi mới; sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi; quản lư chất lượng giống vật nuôi. Theo Pháp lệnh Giống vật nuôi:

- Một trong những nguyên tắc hoạt động về giống vật nuôi là bảo tồn và khai thác hợp lư nguồn gien vật nuôi, bảo đảm tính đa dạng sinh học, kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bảo đảm lợi ích chung của toàn xă hội;

- Ưu tiên đầu tư cho các hoạt dộng sau đây:

+ Thu thập, bảo tồn nguồn gien vật nuôi quư hiếm.

+ Nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, kiểm định giống vật nuôi mới và nuôi giữ giống vật nuôi thuần chủng, đàn giống cụ kỵ, đàn giống ông bà, đàn giống hạt nhân có năng xuất cao, chất lượng cao;

- Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ nhân giống, nuôi giữ giống vật nuôi thuần chủng, đàn giống cụ kỵ, đàn giống ông bà, đàn giống hạt nhân;

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân dầu tư nghiên cứu khoa học, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ về giống vật nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn lực trong hoạt động về giống vật nuôi;

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân sản xuất, sử dụng giống vật nuôi, tham gia bảo hiểm giống vật nuôi;

- Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:

+ Sản xuất, kinh doanh giống giả, giống vật nuôi không đạt tiêu chuẩn chất lượng, giống không có trong danh mục giống vật nuôi dược phép sản xuất, kinh doanh;

+ Phá hoại, chiếm đoạt nguồn gien vật nuôi, xuất khẩu trái phép nguồn gien vật nuôi quư hiếm;

+ Sản xuất kinh doanh giống vật nuôi gây hại cho sức khoẻ con người, nguồn gien vật nuôi, môi trường, hệ sinh thái;…

Pháp lệnh này cũng quy định rơ nguồn gien vật nuôi là tài sản quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lư; Nguồn gien vật nuôi ở khu bảo tồn của Nhà nước khi có nhu cầu khai thác, sử dụng phải được phép của Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản; các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào việc quản lư nguồn gien vật nuôi tại địa phương. Nội dung bảo tồn nguồn gien vật nuôi bao gồm:

- Điều tra, khảo sát, thu thập nguồn gien vật nuôi phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loài vật nuôi;

- Bảo tồn lâu dài và an toàn nguồn gien đă được xác định phù hợp với đặc tính sinh học cụ thể của từng loài vật nuôi;

- Đánh giá nguồn gien theo các chỉ tiêu sinh học và giá trị sử dụng;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tư liệu nguồn gien vật nuôi.

Nhà nước đầu tư và hỗ trợ việc thu thập, bảo tồn nguồn gien vật nuôi quư hiếm, xây dựng cơ sở lưu giữ nguồn gien vật nuôi quư hiếm, bảo tồn nguồn gien vật nuôi quư hiếm tại địa phương. Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản định kỳ công bố danh mục nguồn gien vật nuôi quư hiếm cần bảo tồn.

Việc trao đổi nguồn gien vật nuôi quư hiếm để phục vụ nghiên cứu, chọn, tạo giống vật nuôi mới và sản xuất kinh doanh phải theo quy định của Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản.

Việc trao đổi quốc tế nguồn gien vật nuôi quư hiếm phải được phép của Bộ NN&PTNT, Bộ Thuỷ sản.

Từ nội dung của các văn bản nêu trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sơ bộ như sau:

Vấn đề bảo tồn các nguồn gien đă được nhà nước Việt Nam quan tâm và cũng đă được thể hiện trong các văn bản pháp luật khá sớm và ngày càng bao quát đầy đủ hơn, cụ thể hơn.

Trong giai đoạn trước năm 1996 vấn đề bảo tồn các nguồn gien được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Các luật và pháp lệnh trong các lĩnh vực về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y và về bảo vệ môi trường chỉ có các quy định chung chung, có tính nguyên tắc, thậm chí có khi chỉ gián tiếp đề cập tới việc bảo tồn các nguồn gien, mặc dù các hoạt động trong các lĩnh vực này có tác động rất lớn đến việc bảo tồn các nguồn gien, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn các nguồn gien.

Trong giai đoạn này, các quy định chuyên ngành về bảo tồn các nguồn gien chỉ được ghi nhận trong một vài văn bản cấp Bộ, ngành như Quyết định số 582/NSY ngày 2/11/1987 quy định tạm thời về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan bảo tồn, lưu giữ, sử dụng nguồn gien và giống động thực vật và vi sinh vật với nội dung hết sức sơ sài.

Bắt đầu từ năm 1996, các quy định chuyên ngành về bào tồn các nguồn ghen đă được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật có tầm hiệu lực cao hơn. Đó là các nghị định của Chính phủ về quản lư giống cây trồng, quản lư giống vật nuôi và tiếp tục được quy định cụ thể hơn, ngày càng đầy đủ hơn trong Quy chế quản lư và bảo tồn nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) ban hành.

Với việc ban hành Pháp lệnh Giống cây trồng và Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004, lần đầu tiên ở Việt Nam các quy định chuyên ngành về quản lư, bảo tồn nguồn gien thực vật, động vật được quy định khá đầy đủ trong các văn bản có hiệu lực pháp lư cao, với nội dung đầy đủ, rơ ràng hơn. Song cần lưu ư rằng hai pháp lệnh này chỉ đề cập việc quản lư và bảo tồn giống cây trồng và giống vật nuôi, không bao quát hết các nguồn gien động thực vật và vi sinh vật cần bảo tồn. Hơn nữa để triển khai thực hiện được hai pháp lệnh này trong thực tiễn th́ phải chờ ban hành nhiều văn bản cấp Chính phủ và cấp Bộ, ngành để cụ thể hoá và hướng dẫn.

Cho đến thời điểm này, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo tồn các nguồn gien vẫn c̣n chủ yếu là các quy định có tính chất chung, tính nguyên tắc, chưa được cụ thể hoá ở mức cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong thi hành; nhiều vấn đề quan trọng chưa được pháp luật quy định. Ví dụ vấn đề bảo tồn nguồn gien các cây con làm thuốc trong các văn bản pháp luật được đề cập khá mờ nhạt, thực chất chỉ lướt qua, không cóchỗ nào quy định chi tiết hay hướng dẫn cụ thể để triển khai trên thực tế, tài nguyên di truyền cây con làm thuốc ở Việt Nam có giá trị rất lớn, song cho đến nay trong các luật, pháp lệnh chỉ có một vài quy định có tính chất chủ trương, nguyên tắc, chưa có văn bản nào của Chính phủ, Thường vụ Quốc hội hay Quốc hội để điều chỉnh riêng và chi tiết vấn đề khai thác, sử dụng, bảo tồn cho phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này, đặc biệt phải phù hợp với yêu cầu bảo vệ và khai thác tri thức y học cổ truyền của các dân tộc sống trên lănh thổ Việt Nam.

Vấn đề bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân tạo giống mới từng bước được quy định đầy đủ để khuyến khích và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, của các tác giả, nhưng chưa đề cập đến vấn dề bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân lai tạo giống vật nuôi mới.

Trong một số hành vực, pháp luật đă có quy định gắn lợi ích của cộng đồng, của tổ chức, cá nhân với việc bảo vệ đa dạng sinh học như bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật v.v... Song hiệu quả của công tác này đang c̣n phải bàn luận và xem xét thêm. Có nhiều ư kiến cho rằng việc chia sẻ lợi ích cho cộng đồng địa phương, cho các tổ chức, cá nhân liên quan chưa thoả đáng, có những trường hợp chưa được pháp luật quy định và trên thực tế cũng không được thực hiện. Hai pháp lệnh về giống cây trồng và giống vật nuôi mới ban hành tập trung quy định điều kiện sản xuất kinh doanh giống cây trồng, giống vật nuôi, nhưng không quy định rơ và cụ thể vấn đề chia sẻ lợi ích cho cộng đồng địa phương, cho các tổ chức, cá nhân liên quan.

2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ các nguồn gien

Như đă tŕnh bày ở mục I, hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo tồn các nguồn gien tuy đă được h́nh thành và từng bước được hoàn thiện, nhưng c̣n có nhiều điềm khiếm khuyết và bất cập. Chính những khiếm khuyết và bất cập đó góp phần không nhỏ vào việc hạn chế hiệu quả của các hoạt động bảo tồn các nguồn gien.

Đề góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động bảo tồn các nguồn gicn, cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Theo quan điểm của chúng tôi, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo tồn các nguồn gien cần quán triệt một số quan điểm cơ bản sau đây:

- Phải bảo đảm các quy định của pháp luật có tính thống nhất, đầy đủ, đồng bộ, hợp lư, rơ ràng, cụ thể và phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

- Hoạt động quản lư nhà nước phải phù hợp với cơ chế thị trường, yêu cầu của quá tŕnh thương mại hoá.

- Cần đẩy mạnh xă hội hoá hoạt động trong lĩnh vực này; gắn tối đa lợi ích của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng tồ chức, cá nhân với hoạt động bảo tồn các nguồn gien trên cơ sở xử lư thật hài hoà và thoả đáng mối quan hệ giữa lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng địa phương, lợi ích của tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn các nguồn gien. Về bản chất, dây là vấn dề chia sẻ lợi ích thoả đáng cho các cộng đồng, tổ chức, cá nhân liên quan nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn các nguồn gien.

- Bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả thực tế của hệ thống các quy định của pháp luật; xử lư thật nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật về tồn các nguồn gien.

- Bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên cơ sở dẩy mạnh hợp tác quốc tế, nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến bảo tồn các nguồn gien.

Quán triệt nội dung của các quan điểm cơ bản nêu trên, chúng ta cần nghiên cứu để sớm thực hiện một số giải pháp cụ thể sau đây:

- Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của pháp lênh Giống cây trồng, pháp lệnh Giống vật nuôi về vấn đề quản lư và bảo tồn các nguồn gien cây trồng và các nguồn gien vật nuôi.

- Cần nghiên cứu xây dựng các quy định về quản lư và bảo tồn các nguồn gicn thực vật không phải là cây trồng, nguồn gien động vật không phải là vật nuôi; cần bảo tồn cả các nguồn gien vi sinh vật. Những vấn đề này trước mắt có thể bổ sung vào hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y, về bảo vệ môi trường sinh thái v.v...Về lâudài, những vấn đề này nên được quy định thống nhất trong luật Đa dạng sinh học đangđược triển khai soạn thảo.

- Nên đặt vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả đối với giống giốngvật nuôi mới. Sở dĩ đặt vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả đối với giống vật nuôi mới là v́ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đối với giống giống vật nuôi mới nếu được công nhận và được bảo hộ th́ sẽ có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích hoạt động đầu tư sáng tạo ra các giống mới hữu ích phục vụ cho yêu cầu phát triền kinh tế.

- Khẩn trương hoàn chỉnh để tŕnh Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lư an toàn các sinh vật đă biến đổi gien và sản phẩm của chúng.

Các hoạt động nghiên cứu và triển khai, phát triển, quản lư, chuyển giao, vận chuyển, sử dụng và giải phóng các sinh vật đă bị biến đổi gien do kết quả của công nghệ sinh học hiện đại và các sản phẩm của chúng có thể có ảnh hưởng bất lợi đối với bảo tồn các nguồn gien và sử dụng bền vững đa dạng sinh học cũng như đối với môi trường và sức khoẻ con người. V́ vậy chúng ta rất cần quản lư hết sức chặt chẽ các hoạt động này trên cơ sở một văn bản pháp luật tương ứng.

Nghiên cứu soạn thảo tŕnh cấp có thẩm quyền văn bản quy định về bảo vệ, khai thác các cây và các con động vật, vi sinh vật dùng để làm thuốc chữa bệnh và tri thức y học cổ truyền. Việt Nam có rất nhiều loài cây và con mà nhân dân ta đă, đang và sẽ có thể dùng làm thuốc. Đây là tài nguyên quư báu của dân tộc ta, có giá trị to lớn về y học, về kinh tế v.v.. Song do nhiều nguyên nhân vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức, chưa được khai thác và sử dụng hợp lư văn bản này phải bao gồm cả việc chia sẻ một cách thoả đáng lợi ích cho cộng đồng dân cư các địa phương, cho từng tổ chức và từng người dân nắm giữ các kiến thức về cây, con làm thuốc, về y học cổ truyền.

Cần triển khai nghiên cứu để tiếp tục và sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường (cả luật và hệ thống các văn bản dưới luật), đặc biệt cần sớm ban hành Luật Đa dạng sinh học. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ đa dạng sinh học nói riêng có hiệu quả th́ đương nhiên tạo điều kiện và góp phần quan trọng vào việc bảo đàm hiệu quả cao của công tác bảo tồn các nguồn gien động thực vật và vi sinh vật.

 

Đây mới chỉ những kết quả bước đầu nghiên cứu, các nghiên cứu tiếp sau sẽ được thường xuyên cập nhật.