Tiếp cận và chia sẻ nguồn gen ở Việt nam

Cục Bảo vệ Môi trường

1. Mở đầu        

Quá tŕnh toàn cầu hoá, sự tăng dân số cùng với nạn phá rừng làm đa dạng sinh học giảm đi nhanh chóng. Các nguồn gen động, thực vật và cả những kiến thức truyền thống địa phương có liên quan đến nguồn gen này đang mai một, mất dần đi. V́ vậy, những năm gần đây, việc sử dụng bền vững nguồn gen, bảo vệ các tri thức bản địa và chia sẻ hợp lí lợi ích có được từ nguồn gen đă được các quốc gia chú ư, đặc biệt là sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu tại Rio de Janero năm 1992, khi Liên Hợp Quốc thông qua Công ước quốc tế về đa dạng sinh học. Mục tiêu thứ ba trong ba mục tiêu của Công Ước Đa dạng Sinh học là "phân phối công bằng hợp lư lợi ích có được nhờ việc khai thác và sử dụng nguồn gen, bằng việc tiếp cận hợp lư nguồn gen, bằng chuyển giao hợp lư các công nghệ có liên quan đến nguồn gen, bằng việc công nhận  các quyền sở hữu về nguồn gen  và công nghệ đó, và bằng các tài trợ thích đáng".  Như vậy, tiếp cận và chia sẻ các lợi ích có được từ nguồn gen đă trở thành vấn đề lớn trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Việt Nam đă tiến hành công tác bảo tồn nguồn gen từ những năm 1987. Giai đoạn 1996 - 2000 đă h́nh thành được hệ thống bảo tồn nguồn gen quốc gia gồm 10 đơn vị đầu mối và hơn 60 đơn vị phối hợp trong cả nước thuộc 6 bộ, ngành và địa phương. Kết quả đă bảo tồn và lưu giữ được trên 13500 giống thực vật tại Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật (Lưu Ngọc Tŕnh, 2000), trên 450 giống lúa có tính chống chịu hạn, úng mặn và bệnh hại (Trần Duy Quư, 2000), trên 485 giống cây ăn quả, rau (Vũ Mạnh Hải, 2000), 42 loài cây rừng quư, trên 50 giống vật nuôi (Vơ Văn Sự, 2000),…và đang tiến hành nghiên cứu bổ sung thêm các giống quư hiếm có giá trị kinh tế để bảo tồn nguồn gen.

2. Một số văn bản liên quan đến tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen

2.1. Một số văn bản quốc tế

- Công ước Đa dạng sinh học 1993 "Phân phối công bằng hợp lư lợi ích từ việc khai thác và sử dụng nguồn gen, bằng việc tiếp cận hợp lư nguồn gen, bằng việc công nhận các quyền sở hữu về nguồn gen và công nghệ đó và bằng các tài trợ thích đáng".

- IUCN, 1998, Hướng dẫn xây dựng khung pháp lư để xác định quyền sử dụng nguồn gen.

- Hướng dẫn Born, 2001 về khai thác các nguồn gen và chia sẻ công bằng, b́nh đẳng các lợi ích từ việc sử dụng các nguồn gen.

- Hiệp định khung ASEAN, 1997 - 2004 về tiếp cận và chia sẻ công bằng hợp lư lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen và tài nguyên sinh học, Luongbrabang, Lào, 3- 5/8/2004.

2.2. Một số văn bản trong nước

ở Việt Nam, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen giống cây trồng vật nuôi đă được nhà nước Việt Nam chú trọng quan tâm qua một số văn bản pháp qui như:

-         Chiến lư­ợc bảo tồn quốc gia (1991),

-         Kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi tr­ường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000 (1994);

-         Luật Bảo vệ Môi trường (1994),

-         Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học (1995).

Vấn đề tiếp cận nguồn gen cũng được đề cập tản mạn trong nhiều văn bản pháp qui khác như:

-         Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (1989);

-         Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991);

-         Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993);

-         Pháp lệnh thú y (1993);

-         Nghị định của Chính phủ số 07/CP về quản lư giống cây trồng (1996).

-         Nghị định của Chính phủ số 14/CP về quản lư giống vật nuôi (1996)

-         Nghị định 13/2001/NĐ-CP của Chính phủ về Bảo hộ giống cây trồng mới (2001);

-         Nghị định 11/2002/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lư hoạt động xuất, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dă (2002).

-         Pháp lệnh về giống cây trồng (2004);

-         Pháp lệnh về giống vật nuôi (2004)…

Tuy vậy, việc bảo tồn nguồn gen vẫn chủ yếu là các quy định chung, nguyên tắc, ch­ưa đ­ược cụ thể hoá ở mức cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong thi hành. C̣n cụ thể về tiếp cận và chia sẻ hợp lí lợi ích nguồn gen th́ hầu như chưa được đề cập đến trong các văn bản này.

Hiện nay, Quy chế quản lí và bảo tồn nguồn gen của Bộ Khoa học, Công Nghệ và Môi trường (ban hành theo quyết định 2117/1997/ QĐ- BKHCM&MT ngày 30 tháng 12 năm 1997) văn bản mang tính pháp lí nhất đối với việc tiếp cận nguồn gen.

Vấn đề tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen đă là mối quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lí ở Việt Nam từ mấy năm nay. Đă có nhiều hội thảo được tổ chức liên quan đến tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen như Hội thảo quốc gia “Các vấn đề luật pháp và chính sách đối với đa dạng sinh học Việt Nam” năm 1999 và Hội thảo “Pháp luật về tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen thực vật” năm 2000. Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2001 cũng đă xây dựng dự thảo “Quy chế sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật”. Gần đây, trong khuôn khổ dự án "Xây dựng năng lực về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích" Cục Bảo vệ Môi trường phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đă tổ chức 3 lớp tập huấn tại Hà Nội, Nghệ An và thành phố Hồ Chí Minh. Các lớp tập huấn này đă phần nào nâng cao nhận thức năng lực trong việc tiếp cận và bảo tồn nguồn gen động, thực vật.

3. Đề xuất giải pháp tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích hợp lư ở Việt Nam

3.1. Giải pháp chính sách

Trong t́nh h́nh hiện nay, việc lập ra văn bản pháp lí mới hoàn toàn hay sửa đổi lại  một loạt các văn bản pháp lí có liên quan đến tài nguyên sinh vật để đề cập cụ thể vấn đề tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức và khó có tính khả thi. Do đó, giải pháp về chính sách là sửa đổi lại Qui chế Quản lí và bảo tồn nguồn gen, nâng cấp lên là qui chế do Chính phủ ban hành chứ không phải chỉ là quy chế của một Bộ. Bên cạnh đó cần nâng cao khả năng thực thi pháp luật tại các địa phương

3.2. Nâng cao nhận thức

Bên cạnh việc xây dựng một khung pháp lí cho tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen, th́  việc nâng cao nhận thức về tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen cũng có vai tṛ thiết yếu, nhất là nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương. Khi người dân nhận thức được lợi ích chính đáng mà họ được hưởng và lợi ích đó được pháp luật bảo vệ th́ họ sẽ tự động đ̣i hỏi quyền lợi của ḿnh, đồng thời ư thức bảo vệ đa dạng sinh học của cộng đồng cũng được cải thiện. Cộng đồng cũng phải ư thức về giá trị của các tri thức truyền thống.

3.3. Bảo tồn và lưu trữ

Ngoài việc xây dựng cơ chế pháp lí và nâng cao nhận thức là chúng ta phải tiếp tục xúc tiến điều tra, kiểm kê đa dạng sinh học và khôi phục, bảo tồn các giống cây trồng vật nuôi có giá trị. Tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để t́m ra các nguồn gen cây trồng, vật nuôi mới để bổ sung, lưu trữ vào ngân hàng gen quốc gia.

3.4. Quảng bá

Tăng cường quảng bá với thế giới về tiềm năng nguồn gen của Việt Nam, về quan điểm của Việt nam là khuyến khích việc trao đổi nguồn gen cho nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế, trên cơ sở khai thác bền vững và chia sẻ lợi ích thoả đáng. Công việc trước mắt là xây dựng một trang web riêng cho tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen của Việt Nam và thông báo rộng răi cho giới khoa học và giới kinh doanh quốc tế về trang web này. Trang web sẽ  có thông tin về thủ tục tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen, địa chỉ liên hệ của các cơ quan thẩm quyền, và thông tin về tiềm năng tài nguyên di truyền của Việt Nam, được cập nhật thường xuyên.

4. Một số kiến nghị

- Tăng cường điều tra khảo sát nhằm bổ sung, quản lư và khai thác có hiệu quả các nguồn gen động, thực vật…đang được lưu giữ tại ngân hàng gen quốc gia và mạng lưới trên toàn quốc.

- Xây dựng hệ thống mạng lưới các cơ quan nghiên cứu nhằm bảo tồn và chia sẻ lợi ích các nguồn gen một cách thống nhất và hiệu quả.

- Tăng cường nâng cao nhận thức người dân nhằm phát huy các giá trị tri thức bản địa để chia sẻ lợi ích, kinh nghiệm và áp dụng vào cuộc sống.

- Xây dựng một trang Web về phương pháp tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen.

- Tăng cường năng lực, nhận thức cho các cán bộ quản lư, nghiên cứu khoa học kỹ thuật nhằm bảo tồn nguồn gen và phát hiện những loài gen quư.

- Xây dựng các văn bản pháp quy mang tính thống nhất trong việc tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen.

- Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức, cá nhân tạo giống cây, con mới cần đư­ợc quy định đầy đủ.

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về trao đổi kinh nghiệm trong việc tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen, đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

 

Đây mới chỉ những kết quả bước đầu nghiên cứu, các nghiên cứu tiếp sau sẽ được thường xuyên cập nhật.