Lê Thanh Lựu Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1
Trong hai thập niên qua, trong phạm vi toàn thế giới, nuôi trồng thuỷ sản có mức tăng sản lượng cao nhất trong các lĩnh vực sản xuất lương thực thực phẩm. Kể từ năm 1984 tới nay, tỷ lệ tăng trưởng của nuôi trồng thuỷ sản trung b́nh đạt trên 11%, 3,1% so với tăng trưởng của chăn nuôi gia súc và 0,8% so với tăng trưởng của khai thác thuỷ sản (Albert G.J. Tacon, 2001). Trong thập niên 70, 80, tỷ lệ sản lượng thuỷ sản nuôi trồng chiếm khoảng trên dưới 10% trong tổng sản lượng thuỷ sản, nhưng vào những năm cuối của thập niên 90, tỷ lệ này đă nâng lên trên 30% (năm 2000: 94.848.674/35.858.111/130.433.785* tấn, không kể sản lượng thực vật nước). Tại Việt Nam theo thông báo của FAO, tổng sản lượng khai thác và nuôi năm 2000 đạt 1.952.145 tấn (1.441.509/510.555/1.952.145..../..../....: sản lượng cá khai thác/sản lượng cá nuôi/tổng sản lượng) . Theo báo cáo Bộ Thuỷ sản, năm 2001 sản lượng là 2.287.478 tấn (1.395.783/891.695/ 2.287.478) và năm 2002 sản lượng ước đạt 2.410.000 tấn (1434.800/976.100/2.410.900). Các thống kê của FAO trong các năm mốc 1970, 1980, 1990, 2000 cho thấy, xu thế tăng tỷ lệ của sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản trong tổng sản lượng thuỷ sản của cả thế giới là rất đáng kể, đặc biệt năm 2000 (bảng 1).
Nghề nuôi tôm sú (Penaeus monodon) phát triển rất nhanh trên thế giới. Hiện tại loài này được nuôi ở hơn 22 quốc gia trên thế giới, đóng vai tṛ rất lớn trong việc cải thiện đời sống của các cộng đồng dân cư ven biển và tạo nguồn thu ngoại tệ. Năm 2000 sản lượng tôm sú nuôi đạt 571,5 ngh́n tấn, chiếm 52,3% tổng sản lượng các loại tôm nuôi (FAO 2002). Mặc dù vậy việc nuôi tôm sú đang bị hạn chế bởi một số những khó khăn như: sự lan tràn của các dịch bệnh, chất lượng tôm giống sa sút, thiếu hụt nguồn tôm bố mẹ, v.v. (Tùng 2001a). Tại Việt Nam, Theo Bộ Thủy sản nhu cầu con giống tôm sú khoảng 30 tỉ con, hiện tại chỉ đáp ứng một nửa (khoảng 16-17 tỉ con). Để có thể cân bằng cung và cầu, nhất thiết phải đảm bảo nguồn tôm bố mẹ có chất lượng cho sản xuất. Yêu cầu sản xuất của nghề nuôi tôm tại Việt Nam đ̣i hỏi phải gấp rút giải quyết t́nh trạng thiếu tôm sú bố mẹ và nâng cao chất lượng của tôm giống. Nhập khẩu tôm bố mẹ từ các quốc gia khác chỉ là giải pháp tạm thời và có thể đi kèm với những hậu quả đáng tiếc, đặc biệt trong việc kiểm soát dịch bệnh. Kinh nghiệm thực tiễn ở Nhật Bản, Mexico, Ecuador và Mỹ cho thấy việc di nhập thiếu kiểm soát tôm giống luôn dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và những xáo trộn trong đời sống xă hội (Tim Flegel, trao đổi trực tiếp). Báo cáo tŕnh bày tổng quan các kết quả nghiên cứu gia hoá tôm sú đă đạt được trên thế giới, phân tích những hạn chế và tiến bộ của các nghiên cứu. Trên cơ sở đó liên hệ với điều kiện của Việt Nam để thảo luận phương hướng tiếp cận nhằm giải quyết vấn đề khan hiếm tôm bố mẹ và nâng cao chất lượng con giống.
Bui Dac Thuyet – 40212649 THE UNIVERSITY OF QUEENSLAND
Aquaculture has been contributing a significant part in the development of many national economies. The total world aquaculture production increased considerably from just only 7,4 million tons in 1980 to more than 42 million tons in 1999, valued at over US$53 thousand million, and is predicted to be 47 million tons for the year 2010 (GESAMP, 2001). It is also notable that although shrimp production is only 6% of the total global aquaculture production, its value shares a significant part (24%) in the total value (GESAMP, 2001). More importantly, more than 82% of the total global aquaculture production comes from eveloping countries (GESAMP, 2001). It is therefore clear that aquaculture in general, and coastal shrimp farming in particular, offers great potential in providing valuable aquatic product, reducing over-capturing, and raising living standard for many people, especially those living in rural areas in developing countries.
Định hướng nghiên cứu và sản xuất của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 trong chương tŕnh phát triển nuôi thủy sản trên biển và hải đảo của chính phủ và Bộ Thủy sản