Cá chim trắng có nguồn gốc từ sông Amazon nam Mỹ, người địa phương gọi loài cá này là Movocoto, Pacu hoặc Cachamablanco. Cá chim trắng là loài cá ăn tạp, phổ thức ăn rộng, tốc độ sinh trưởng nhanh.Theo Trương Trung Anh (1992), sau 127 ngày nuôi cá đạt trọng lượng 1.200-1.500 g/con. Tác giả đă thí nghiệm so sánh tốc độ sinh trưởng giữa cá chim và cá rô phi Niloticus trong cùng thời gian và điều kiện nuôi, kết quả cho thấy cá chim sinh trưởng nhanh hơn cá rô phi 94,5%. Thịt cá chim ngon và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Kết quả phân tích tại viện NCTS Trường Giang cho thấy cá cỡ 200-250g có hàm lượng đạm thô cao (17,34%), mỡ 2,10%, tro 0,96% và nước 79,6%.
Trong những năm gần đây nghề nuôi cá biển ở Việt Nam bước đầu đă đem lại công ăn việc làm góp phần cải thiện đời sống cho một bộ phận cư dân sống ở vùng ven biển. Tuy nhiên, một trong những vấn đề nan giải hiện nay là chúng ta vẫn chưa chủ động được con giống, đa số được thu gom từ tự nhiên kích cỡ khác nhau, xây sát trong quá tŕnh đánh bắt, con giống yếu không thích nghi được với điều kiện nuôi, dễ mắc bệnh... hoặc phải nhập ngoại. Công nghệ sản xuất giống cá biển là công nghệ rất mới mẻ và phức tạp, đ̣i hỏi khắt khe về môi trường, thức ăn, chăm sóc quản lư.... đặc biệt là Cá Song.
Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Thanh Phương Đại học Cần Thơ
Thức ăn đóng vai tṛ rất quan trọng trong nuôi vỗ tôm bố mẹ phục vụ sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Thức ăn không những ảnh hưởng đến sự thành thục của tôm bố mẹ mà c̣n ảnh hưởng đến chất lượng ấu trùng (Das, 1993). Đối với tôm biển đă có rất nhiều nghiên cứu về thức ăn cho tôm bố mẹ, c̣n với tôm càng xanh các nghiên cứu về thức ăn cho bố mẹ c̣n rất ít. Nguồn tôm bố mẹ tự nhiên nhiều nên các trại giống có xu hướng thu gom tôm cái mang trứng đánh bắt trong tự nhiên cho đẻ. Hiện ở Việt Nam chưa có các nghiên cứu về thức ăn nuôi vỗ tôm càng xanh. Mặt khác, cùng với sự gia tăng nhu cầu về con giống, các nghiên cứu về thức ăn và ảnh hưởng của thức ăn trong quá tŕnh nuôi vỗ tôm bố mẹ là rất cần thiết nhằm chủ động trong công tác sản xuất số lượng lớn tôm giống đáp ứng nhu cầu nuôi. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của một số loại thức ăn nuôi vỗ lên sức sinh sản tôm bố mẹ, đồng thời so sánh chất lượng của 3 nguồn tôm bố mẹ: nguồn tôm mẹ được nuôi vỗ từ tôm giống sinh sản nhân tạo và tôm mẹ thu trực tiếp từ tự nhiên.
Nguyễn Quốc Hưng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm biển đặc biệt là tôm sú thật sự đă trở thành ngành sản xuất hàng hóa có hiệu quả cao, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Với khoảng 5.000 trại sản xuất chủ yếu tập trung vào các tỉnh miền Trung và Nam bộ hiện nay là động lực cơ bản phát triển nghề nuôi. Tuy nhiên, chất lượng giống được coi là khâu đầu tiên có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất, giống tốt sẽ có tác dụng nâng cao năng suất. Do đó, để công nghệ sản xuất giống tôm đạt chất lượng cao, một số nước trong khu vực và thế giới đă nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ có liên quan đến toàn bộ quá tŕnh chọn giống cũng như các giải pháp kỹ thuật nhằm sản xuất giống có chất lượng cao đến được với người nuôi đồng thời hạn chế tối đa số lượng giống mang mầm bệnh phát tán ra môi trường nuôi. V́ vậy, việc chọn lựa và quản lư tôm bố mẹ, công nghệ xử lư nước, sử dụng các probiotic, các chế phẩm tăng cường hệ miễn dịch, chế độ dinh dưỡng tối ưu, hạn chế tối đa các đường truyền bệnh, không sử dụng các hóa chất và kháng sinh độc hại trong sản xuất giống là rất cần thiết, bảo đảm giống tốt phục vụ cho nghề nuôi phát triển bền vững.
Nguyễn Văn Chung, Huỳnh Minh Sang, Hà Lê Thị Lộc Viện Hải dương học Nha Trang
Trong những năm qua nghề nuôi tôm ở nước ta đă có những bước phát triển đáng kể nhưng vẫn c̣n mang tính tự phát và chủ yếu là nuôi tôm sú (Penaeus monodon). Việc phát triển nuôi tôm không theo qui hoạch đă gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, làm tổn hại đến kinh tế. Nuôi xen canh nhiều đối tượng là một trong những biện pháp hạn chế dịch bệnh, giảm rủi ro cho người sản xuất. Chính v́ thế, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo các đối tượng nuôi trồng mới để nuôi luân canh với tôm sú là việc làm cấp thiết. Điều này không những góp phần đa dạng hóa sản phẩm hải sản mà c̣n góp phần giảm sức ép về nhu cầu tôm sú thành thục vốn đang khan hiếm.
Lê Xân, Nguyễn Xuân Sinh, Bùi Khánh Tùng, Lê Đức Cường và ctv. Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Nuôi cá biển đang được nhiều nước xác định là một ngành kinh tế quan trọng. Để nhanh chóng phát triển nghề nuôi cá biển, nhiều nước đă và đang tập trung nghiên cứu chủ động sản xuất cá giống nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu nuôi và chiếm lĩnh thị trường giống cá biển. Trong số các đối tượng có thể sản xuất giống th́ cá song là loài khó cho đẻ trong điều kiện nhân tạo nhất nhưng lại có giá trị kinh tế cao và đang được nhiều nước tập trung đầu tư nghiên cứu.
Vũ Dũng, Trần Thế Mưu Trạm Nghiên cứu NTTS nước lợ Hải Pḥng
Cà ra thuộc lớp giáp xác, bộ mười chân, họ cua nước ngọt, giống cua lông tơ và loài Eriocheir sinensis. Cà ra được nghiên cứu, nuôi và tiêu dùng ở nhiều nước như Singapore, Pháp, Trung Quốc. Nhiều tác giả đă đề cập những nghiên cứu về sinh học, sinh sản và nuôi như: Henri Hoestlandt, 1948, 1955, 1959; Le Hir P. Salomon J. C. Chabert D Hieres G.. Mauvais J.L..1986; Vigneux E & Keith P..1993; Koller, 1937; Peter, 1933; Panning, 1938; Triệu Nải Cương,..[2,3,5,16]. Hiện nay ở Trung Quốc cà ra được sản xuất giống và nuôi trong các hệ thống ao nước ngọt và ruộng lúa cho năng suất đáng kể
Nguyễn Quang Huy1, Như Văn Cẩn1, Đỗ Văn Minh1, Peter Lauesen2, Phạm Lam Hồng1, Bùi Văn Hùng1, Nguyễn Thị Lệ Thủy1, Trần Mai Thiên1 1Viện nghiên cứu và nuôi trồng Thủy sản 1 2SINTEF Fishery and Aquaculturre, Norway
Cá gị (Rachycentron canadum) là loài cá nổi có tập tính di cư. Cá phân bố rộng, từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến các vùng nước ấm của biển ôn đới. Vùng sinh thái sống của cá tương đối đa dạng: ở ven biển, các rạng san hô đến vùng biển khơi (Shaffer, 1989). Đối với nghề nuôi biển, cá gị là đối tượng nuôi tương đối mới nhưng có nhiều ưu điểm quan trọng để phát triển thành đối tượng nuôi biển công nghiệp có giá trị thương phẩm cao, tương tự như cá hồi của châu Âu. Cá sinh trưởng nhanh, từ cỡ cá giống 30g (70-75 ngày) có thể đạt 6-8 kg sau 1 năm nuôi (Su và ctv., 2000). Hệ số thức ăn của cá khi sử dụng cá tạp dao động từ 8-10 (Huy, 2002), khi sử dụng thức ăn công nghiệp đạt từ 1,02 - 1,8 tuỳ theo cỡ cá (Su và ctv,2000). Ngoài ra, so với một số loài cá nuôi khác, cá gị có khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường tốt, có tiềm năng phát triển nuôi xa bờ, ở những vùng biển hở, Thịt cá gị trắng, ngon và bổ dưỡng. Hàm lượng acid béo không no EPA và DHA cao hơn so với nhiều đối tượng nuôi khác (Shiau, 1990, theo Su và ctv., 2000).
Đỗ Văn Minh, Lê Xân, Peter Lauesen, Đồng Xuân Vĩnh, Nguyễn Quang Huy, Mai Công Khuê và ctv.
Việt Nam có bờ biển dài, có khá nhiều eo vịnh kín, điều kiện môi trường tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển nói chung và nuôi cá biển nói riêng. Chỉ tính riêng các khu vực có diện tích mặt nước nuôi tập trung như Hạ Long, Cát Bà, Đà Nẵng, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc đă có hàng trăm ngàn ha có điều kiện thuận lợi để nuôi cá biển. Đối tượng nuôi của Việt Nam rất phong phú. Nhiều loài cá biển là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu như cá song, cá gị, cá tráp, cá măng, cá nhụ, cá vược, cá bơn.
Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Hồng Hải Trường Trung học Thủy sản IV
Cá chuối Ophiocephalus maculatus Lacepede thuộc Giống: Ophiocephalus Họ: Ophiocephalidae Bộ: Ophiocephaliformes Lớp: Pisces Là một trong những loài có giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm ngon, sức sống cao, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa thích. Cá phân bố phổ biến ở trong các ao, hồ, đầm miền Bắc Việt Nam, nhưng do tính hung dữ và tập tính ăn cá con, nên cá chuối trước đây bị các nhà nuôi cá coi là một kẻ thù nguy hiểm trong các thuỷ vực nuôi tôm, cá. V́ vậy đối tượng cá này thường bị tiêu diệt và không được chọn làm đối tượng nuôi. Khoảng trên 10 năm trở lại đây để diệt cá tạp trong các quy tŕnh nuôi thủy sản và khống chế sự tự gia tăng mật độ của cá rô phi trong các ao nuôi thương phẩm, các nhà nuôi thủy sản đă tiến hành nuôi ghép cá chuối, do dó cá chuối thương phẩm đă có bán nhiều trên thị trường ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam.