Phạm Báu, Nguyễn Đức Tuân, Bùi Đ́nh Đặng, Nguyễn Công Thắng
Trước t́nh h́nh nguồn lợi cá sông Hồng bị giảm sút nghiêm trọng, một số loài cá có giá trị kinh tế cao có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong khuôn khổ của đề tài: “Điều tra nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dă quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ Semilabeo notabilis Peters, 1880; cá Bỗng Spinibarbus denticulatus oshima, 1926; cá Lăng Hemibagrus elongatus Gunther, 1884; cá Chiên Bagarius yarrelli Sykes, 1841”
Hồ Ba Bể là 1 trong 20 hồ tự nhiên đẹp nhất thế giới, là di sản thiên nhiên của các nước Đông Nam châu á. Tổng hợp các nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy nguồn lợi thuỷ sản của hồ phong phú đa dạng và độc đáo gồm 105 loài thuộc 65 giống, 18 họ và 5 bộ và 5 phân bộ. Trong những năm vừa qua do việc quản lư c̣n nhiều bất cập dẫn đến nguồn lợi thuỷ sản có nhiều biến động. Qua nghiên cứu hiện nay, tiềm năng về nguồn lợi thuỷ sản của hồ Ba Bể và lưu vực sông Năng là rất lớn, những biến động về môi trường so với các năm trước không nhiều, hiện tại môi trường vẫn trong sạch đảm bảo cho sinh vật và cá phát triển tốt. Nguồn lợi thuỷ sản gồm 90 loài nằm trong 57 giống 18 họ và 5 bộ trong đó có 38 loài cá có giá trị kinh tế, có 9 loài cá nuôi và có khoảng 20 loài cá quư. Trong 20 loài cá quư có 7 loài ở mức độ hiểm hoạ đe doạ đến sự tồn tại của loài (theo sách Đỏ Việt Nam năm 2003), chiếm 7,95% tổng số loài . Trong các đối tượng nghiên cứu đặc điểm sinh học có giá trị kinh tế cao: Cá Sỉnh gai, cá Chầy đất, cá Rô mó, cá Vền và cá Cầy ở hồ Ba Bể và sông Năng th́ cá Chầy đất, cá Rô mó, cá Vền và cá Cầy có thể thuần hoá thành đối tượng cá nuôi kinh tế trong ao. Các giải pháp đề xuất về quản lư và khoa học kỹ thuật đối với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nguồn lợi có ư nghĩa rất lớn cho khoa học và thực tế quản lư.
Sông Đồng Nai xuất phát từ vùng núi cao của cao nguyên Liangbien thuộc dăy Trường Sơn Nam, gồm hai nhánh ở thượng nguồn là Đa Dung và Đa Nhim. Sông có hướng chăy chính là đông bắc - tây nam, đi qua các tỉnh Lâm Đồng, Daklak, B́nh Dương, B́nh Phước, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và Long An. Ḍng chính sông Đồng Nai có tổng chiều dài 628km, từ thượng lưu Đa Nhim đến cửa Soài Rạp. Hệ thống sông Đồng Nai có nguồn nước khá dồi dào, là nơi tập trung của nhiều loài thủy sản có giá trị và đóng một vai tṛ quan trọng trong sự phát triển ngành thủy sản nói chung và nghề khai thác nói riêng. Nghề khai thác ở đây rất phát triển, tập trung chủ yếu ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành, sự gia tăng dân số và việc sử dụng những phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt, đă làm ô nhiễm môi trường sống đồng thời kéo theo sự giảm sút nhanh chóng về nguồn lợi thủy sản. Mặt khác, việc nghiên cứu về thành phần loài, sự phân bố và sản lượng khai thác các loài tôm trên sông Đồng Nai chưa được đi sâu.
Khu vực đầm phá Thuận An nằm ở phía đông của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Do có vị trí đặc biệt thông với biển qua cửa Thuận An nên ở đây có sự tương tác hệ sinh thái biển với hệ sinh thái nước ngọt rất rơ rệt tạo nên một hệ thủy vực nước lợ đặc trưng. Trong sự tương tác đó các yếu tố môi trường sinh thái có những biến động theo chu kỳ khí hậu của Thừa Thiên Huế, và kéo theo là sự di nhập của một số giống loài thủy sản từ biển vào đầm phá và ngược lại. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm góp phần làm rơ những nội dung này, bổ sung một chuỗi số liệu năm về các thông số môi trường, các thông tin sinh thái liên quan đến sự xuất hiện các giống loài thủy sản dựa vào cộng đồng, giúp hiểu hơn, tiến tới khai thác bảo vệ hợp lư các nguồn lợi của hệ đầm phá.
Nguyễn Xuân Cương (1), Trịnh Quang Tú (1), Phạm Thị Minh Tâm (1), Vơ Thanh B́nh (2) (1)Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 (2)Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh
Nghiên cứu phân tích sinh kế bền vững của người nghèo khu vực miền núi được tiến hành tại các địa phương thuộc tỉnh Hoà B́nh, Sơn La và Lai Châu, nơi các cộng đồng dân tộc thiểu số đang sinh sống. Nh́n chung, các hoạt động sống của người dân nơi đây được xác định bởi hàng loạt các yếu tố bao gồm các mối quan hệ xă hội, quan hệ sản xuất, nguồn nhân lực cũng như tài nguyên sẵn có tại địa phương. Xét trên một khía cạnh nào đó, những yếu tố này có thể làm tăng tính an ninh của nông hộ hoặc có thể làm cho nông hộ mất cân bằng và lâm vào t́nh trạng khó khăn.
Đinh Văn Thành, Phạm Văn Trang, Lê Thanh Lựu Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
Hiện nay, tỉnh Phú Thọ đă căn bản giải quyết an toàn lương thực, b́nh quân lương thực trên đầu người là 310 kg/năm. Diện tích mặt nước có thể nuôi thủy sản chiếm khoảng 11% đất nông nghiệp bao gồm các loại h́nh thủy vực như ao gia đ́nh, ruộng trũng và hệ thống hồ chứa vừa và nhỏ dày đặc phục vụ cho thuỷ lợi địa phương. Có thể nói diện tích và loại h́nh mặt nước nuôi thủy sản của tỉnh Phú Thọ có ưu thế đặc biệt so với nhiều địa phương khác, kể cả những địa phương đồng bằng. Tuy nhiên, trong vài thập niên qua, một phần do phải tập trung những nỗ lực để giải quyết những vấn đề nóng bỏng khác của địa phương, một phần do chuyển đổi cơ chế quản lư, nên phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Phú Thọ chưa có cơ hội để đạt được những thành tựu đáng kể, tương xứng với tiềm năng sẵn có của ḿnh. Hiện tại, nghề nuôi thủy sản của tỉnh chủ yếu là tự phát nhằm cung cấp một phần thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh; dẫn đến năng suất, sản lượng chưa cao, chưa đa dạng hóa loài nuôi. Trên địa bàn của tỉnh chưa có vùng nuôi cá tập trung tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn.
Mai Văn Tài, Tống Hoài Nam và Trịnh Quang Tú Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1
Hiện nay, các loại sản phẩm thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học (CPSH) đă và đang được sử dụng rộng răi trong nuôi trồng thủy sản (NTTS), đặc biệt là trong nuôi tôm. Theo Weston (2000); GESAMP (1997), hóa chất được dùng trong NTTS trên thế giới thường ở dạng: thuốc diệt nấm (antifoulants), thuốc khử trùng (disinfectants), thuốc diệt tảo (algicides), thuốc trừ cỏ (herbicides), thuốc trừ sâu (pesticides), thuốc diệt kư sinh trùng (parasiticides), thuốc diệt khuẩn (antibacterials), CPSH (probiotics).
Theo Arnstein (1969), các h́nh thức quản lư khác nhau nằm trong hai h́nh thức cơ bản là quản lư hành chính nhà nước và quản lư cộng đồng. Ngoài ra đồng quản lư hay quản lư nguồn lợi dựa vào cộng đồng (QLNLDVCĐ) là h́nh thức quản lư trung gian giữa hai h́nh thức trên. QLNLDVCĐ là một h́nh thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lư và lợi ích (Pomerroy, 1995). Cả hai h́nh thức quản lư và quản lư cộng đồng thuần tuư đều có lợi ích và hạn chế riêng, đôi khi không thể dung hoà hay đánh đổi được. V́ thế, cần một h́nh thức quản lư kết hợp hài ḥa các lợi ích, sự phối hợp và khả năng của cộng đồng cũng như các kỹ năng về khoa học kỹ thuật, công nghệ và quản lư của các tổ chức nhà nước. Đó là h́nh thức quản lư dựa vào cộng đồng. Hiệu quả quản lư sẽ được nâng cao khi có sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi và các bên liên quan trong việc quản lư (Pomeroy, 2000 và VEEM, 2002).
Nguyễn Văn Hảo & Vơ Văn B́nh Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Phân loại cá là việc không thể thiếu được khi nghiên cứu nguồn lợi cá. Phân loại cá ở các vùng nước, ngoài việc định loại chính xác các loài, c̣n phải sắp xếp cá theo một trật tự, một hệ thống nhất định để tiện theo dơi và tra cứu. Phân loại cá nước ngọt ở nước ta từ 1960 đến nay chủ yếu là sắp xếp theo hệ thống của Berg (1940) và sau đó được thay thế bằng hệ thống của Lindberg (1971). Hơn 40 năm nghiên cứu và phân loại cá của nhiều tác giả, trên nhiều thuỷ vực và nguồn tài liệu tiếp cận cũng phong phú hơn, các công bố cũng có nhiều cải tiến, tu sửa để hoà nhập với xu thế phát triển chung của phân loại cá thế giới. Về phương pháp các tác giả sắp xếp đều theo hệ thống của Lindberg (1971) nhưng kết quả công bố th́ không giống nhau và ngày càng xa dần với cách sắp xếp của hệ thống này. Do đó đă gây nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, sử dụng, đối chiếu, so sánh và nhất là trao đổi tài liệu. V́ vậy chúng tôi viết báo cáo này nhằm điểm lại các hệ thống phân loại cá chủ yếu đang được sử dụng thịnh hành, việc sử dụng hệ thống phân loại cá trong nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta và đề xuất một hệ thống sử dụng trong nghiên cứu trong thời gian tới. Chúng tôi hy vọng báo cáo này sẽ góp phần vào việc thống nhất về vấn đề phân loại trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, các bộ, họ và phân họ cá sử dụng trong báo cáo gồm 4 dạng sau: Cá nước ngọt thật sự, cá có nguồn gốc mặn lợ di cư vào vùng nước ngọt và vùng ngập triều, cá nước ngọt di cư ra biển sinh sản và cá nhập nội.
Nguyễn Phú Ḥa, Bùi Thị Phương Thảo, Trần Kim Loan, Đỗ Minh Quang Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Việc tận dụng nguồn nước thải thành phố để nuôi trồng thủy sản đă đem lại không ít lợi nhuận cho người dân sống ở ngoại ô thành phố. B́nh Chánh, huyện ngoại thành của Thành Phố Hồ Chí Minh cũng có những hoạt động về nuôi trồng thủy sản khá phong phú, mặc dù đang ḥa ḿnh vào xu hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa của thành phố, với diện tích nông nghiệp chiếm 71,7% và diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm gần 30% diện tích đất nông nghiệp. Do điều kiện tự nhiên, phần lớn đất đai của huyện nằm trong vùng trũng thấp và ở hạ lưu sông, v́ vậy, nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản của huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước thải của thành phố.