Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm thu được năng suất cao và tạo ra sản phẩm tập trung. Các hệ thống nuôi bao gồm nuôi thâm canh trong ao xây, hệ thống bể nước chảy, trong lồng bè trên sông hồ. Hệ thống nuôi thâm canh trong ao xây được áp dụng rộng răi ở một số nơi như Đài Loan, Trung Quốc và Philippin. Hệ thống nuôi này đă cho năng suất từ 15-50 tấn/ha/năm.
Nguồn nước có ở khắp mọi nơi, sinh vật sống trong nước, cư trú, di chuyển, t́m kiếm thức ăn. Nước là một tấm vỏ bọc bảo vệ rất an toàn, tránh được những thay đổi đột ngột của thời tiết trên cạn hoặc cái nóng cháy bỏng của mặt trời. Nước hoà tan được nhiều chất vô cơ và hữu cơ. Do đó thuỷ vực chịu ảnh hưởng rất lớn của nền đất, các chất trong đất có thể ngấm ra và khuếch tán vào nước. Vùng trung du và núi đồi thường thuộc loại đất vàng đỏ nâu (gọi là đất đá ong hoá hoặc đất Feralit, Laterit), có nhiều oxit sắt, nên nước ở các ao hồ vùng trung du và miền núi thường bị nhiễm sắt. Vùng ven biển thường bị ảnh hưởng của đất phèn (vùng cửa sông ven biển và các rừng ngập mặn sú, vẹt...) do có Sulfat sắt và sulfat nhôm, không những bị chua mà c̣n bị nhiễm sắt và sulfua rất độc hại
Mục đích môn học • Làm quen với các nguyên lư cơ bản, các phương pháp, h́nh thức khuyến ngư • Trang bị các công cụ cơ bản trong phân tích hiện trạng, lập kế hoạch phát triển NTTS, kế hoạch khuyến ngư, đánh giá hoạt động khuyến ngư • Trang bị kỹ năng trong công tác khuyến ngư
Bùi Thị Thu Hà, Trần Thị ánh Nguyệt, Trịnh Quang Tú
Các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ đang được đánh giá là vùng có tiềm năng phát triển nghề thủy sản cả về khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản. Mục tiêu phát triển kinh tế từ nay đến 2010 của cả 4 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng B́nh, Quảng Trị đều đưa thủy sản là một mũi nhọn cần phát huy năng lực và đẩy mạnh sự phát triển. Mục tiêu của việc phát triển nuôi trồng thủy sản là vừa đảm bảo an toàn thực phẩm vừa tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuẩt khẩu. Phát triển NTTS hiện nay có quan điểm là phải phát triển theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm sản xuất và ổn định đời sống nhân dân. NTTS phải từng bước được hiện đại hoá, phát triển theo phương pháp nuôi công nghiệp là chính, kết hợp với các phương pháp nuôi khác phù hợp với điều kiện từng vùng. Trong đó hướng mạnh vào phát triển nuôi thủy sản nước lợ và nuôi biển, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nuôi tôm xuất khẩu. Chính v́ vậy nghiên cứu về hiện trạng nghề nuôi tôm sú sẽ góp phần vào việc hiểu rơ hơn t́nh h́nh nghề nuôi và đánh giá được tiềm năng phát triển của nghề trong thời gian tới.
Chính phủ Việt Nam đang quan tâm đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển. Trong những năm gần đây, nhà nước đă ban hành nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích người dân ven biển chuyển dịch sinh kế như chuyển đất hoang hoá, đất làm muối hoặc đất trồng lúa nhiễm mặn, kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm. Nhằm giúp đỡ các cơ quan chức năng và các cộng đồng ven biển hiểu được vai tṛ của hoạt động nuôi trồng thủy sản tới sinh kế người dân, Chương tŕnh Đa Dạng Sinh Kế và Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp của Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) đă hỗ trợ Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 tiến hành dự án "Chuyển dịch sinh kế: sinh kế truyền thống và nghề nuôi trồng thuỷ sản mới ven biển Việt Nam". Xă Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế là một điểm nóng đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong quá tŕnh chuyển dịch từ vùng nuôi quảng canh chắn sáo trên đầm phá sang nuôi bán thâm canh trong ao đất được Dự án lựa chọn để tiến hành nghiên cứu. Nghiên cứu này cho chúng ta một cái nh́n tổng quát về những cái được và mất của việc chuyển dịch và những định hướng góp phần nâng cao đời sống của người dân do chính cộng đồng đề xuất.
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản ven biển đă phát triển nhanh ở nước ta. Nhiều vùng đă thay đổi h́nh thức canh tác từ trồng lúa, ruộng muối… sang nuôi tôm và có vùng nhanh chóng phát triển hệ thống nuôi thuỷ sản quảng canh cũ sang sang h́nh thức cao hơn là nuôi bán thâm canh và thâm canh. Sự phát triển này đă làm thay đổi cơ cấu ngành nghề, giống loài nuôi, làm tăng khối lượng sản phẩm trong nền kinh tế. Cuối năm 2000, được sự hỗ trợ của dự án SUMA và Sở Thuỷ sản nghệ An, xă Quỳnh Lộc đă qui hoạch lại vùng nuôi và chuyển diện tích đất hoang hoá và một phần đất nông nghiệp, đất làm muối kém năng suất sang NTTS với những h́nh thức quảng canh, quảng canh cải tiến nhằm mục tiêu tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân địa phương. Tuy nhiên mức độ tác động của việc chuyển dịch này đến đời sống người dân trong vùng th́ chưa có nghiên cứu nào đánh giá. V́ vậy, thông qua sự hỗ trợ của FAO, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 thực hiện nghiên cứu” Đánh giá tác động của việc chuyển dịch sinh kế sang NTTS đến đời sống của người dân vùng ven biển tại xă Quỳnh Lộc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”.
This paper will provide an analytical overview of shrimp farming industry in Vietnam; major problems faced by the industry and synthesize environmental and socio-economic impacts of shrimp farming as well as review of current government policies for shrimp farming, shrimp trade and discusses policy options for directing sustainable shrimp farming development. The Government is encouraging transformation from salt-intruded rice fields, saltpans and coastal alluvial grounds to ponds for aquaculture especially shrimp farming. Development of shrimp farming has brought great social, economic benefits such as generated jobs, created income for coastal communities, improved local infrastructure and earned foreign currency for the country. Nevertheless, the development has been through unplanned expansion of the number of farms, households, farming area, and recently farming intensification. The shrimp farming is small-scale nature, based mainly on individual households. The fast growing of the shrimp farming has led to negative environmental impacts in both short term and long term impacts as mangrove degradation, ecological imbalance, pollution and outbreak of diseases. Management of the industry is facing many obstacles regarding planning, seed supply, irrigation development, capital mobilization and environmental protection. Although shortcomings have been pointed out by the Government for many years, they still remain unsolved because of a weak management mechanism, limited capacity of staff and low-intellectual standard of majority of farmers. The Vietnam’s policies for the shrimp industry must be adjusted and complemented to improve the quality of the development so that the sustainable shrimp farming development can be achieved.
Shrimp farming has been developing rapidly in Vietnam recently and is facing a number of challenges. These include environmental and socio-economic impacts, volatile international markets and current anti-dumping issues. This paper provides an analytical overview of major problems faced by the industry in Vietnam based on a literature review and experience gained under the UNDP-funded project VIE/97/030 “Environmental management in coastal aquaculture”. The dominant characteristic of shrimp farming is its small-scale nature, based mainly on individual households. Development of shrimp farming has occurred through unplanned expansion in terms of number of farms, households, farming area, and - more recently - farming intensification. Traditional practices met constraints in meeting product quality standards in domestic and foreign markets. Demonstration under the project revealed that community-based management is an important way to bring farmers together to adopt responsible farming practices, and improve standards for quality shrimp production. Factors contributing to success of the management approach include: (1) farming communities’ willingness to cooperate and provide labour; (2) development of management plans reflecting the practical needs of and benefits for the community; (3) building the capacity of key members; (4) integrating community activities into the state management network. Shrimp farming is very important to Vietnam. For responsible development we recommend that the government should promote and strengthen community-based management approaches. A legal policy document for community-based shrimp farm management should be developed in order to provide specific guidelines for and delegate rights to local authorities and farmers.