|
Chuyên mục: Hội thảo bệnh cá
|
Môi trường trong trồng thủy sản: Hệ thống quan trắc môi trường và pḥng ngừa dịch bệnh trong bối cảnh suy thoái tài nguyên nước và ô nhiễm c̖
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
22/12/2006 |
| |
Mai Văn Tài Trung tâm Nghiên cứu & Quan trắc Môi trường & Bệnh Miền Bắc
Nội dung tŕnh bày • Sơ lược t́nh h́nh NTTS và yêu cầu hội nhập • Hiện trạng suy thoái và ô nhiễm các lưu vực sông lớn ở nước ta • Hệ thống QTCB và những yêu cầu hợp tác
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 781
Kích thước File: 683.00 KB
Hệ điều hành: None
Đánh giá: (1 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Kinh tế Xă hội
|
Mô h́nh sản xuất rô phi hàng hoá tập trung dựa trên cơ sở của các nông hộ nhỏ cá biệt tại Hải Dương
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
15/12/2006 |
| |
Nguyễn Huy Điền, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia
Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm thu được năng suất cao và tạo ra sản phẩm tập trung. Các hệ thống nuôi bao gồm nuôi thâm canh trong ao xây, hệ thống bể nước chảy, trong lồng bè trên sông hồ. Hệ thống nuôi thâm canh trong ao xây được áp dụng rộng răi ở một số nơi như Đài Loan, Trung Quốc và Philippin. Hệ thống nuôi này đă cho năng suất từ 15-50 tấn/ha/năm.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 399
Kích thước File: 259.00 KB
Hệ điều hành: None
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Hội nghị nuôi biển
|
Một số kinh nghiệm khi phát triển vật nuôi mới trong nuôi trồng thuỷ sản
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
12/10/2006 |
| |
Tiến Sỹ Lê Minh Viễn Công ty NTTS TM Viễn Thành, TP HCM
Hàu từ lâu được xếp vào hàng thực phẩm cao cấp, thịt có mùi vị thơm ngon, giàu dinh dưỡng và được nhiều khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Việt nam có trên 80 triệu dân, mức sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn thực phẩm có chọn lọc ngày càng nhiều. Tiềm năng xuất khẩu rộng mở
|
Phiên bản:
Lần Download: 286
Kích thước File: 0 bytes
Hệ điều hành: None
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Các Dự án
|
Managing health risks to develop wastewater into a valuable resource and asset
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Cập nhật vào:
16/09/2006 |
| |
Fast-growing urban populations and cities generate increasing volumes of domestic and industrial wastewater. This wastewater is used for aquaculture and agriculture production, being often the only (reliable) source of water and nutrients available. Although municipalities are increasingly aware of the significance of the practice and the benefits it can bring, they often do not know the practical recommendations available to make wastewater use safer and more sustainable, without relying on non-affordable treatment technologies alone. The long-term goal of integrated waste management will always be to move from unregulated use of untreated wastewater to a more regulated and multi-beneficial approach. Environmental legislation should be strengthened and wastewater discharge into public water bodies better monitored and regulated, while low-cost treatment systems are being provided. The level of necessary wastewater treatment however, can vary if complementary health risk reduction strategies are put in place. The highest priority in the short term should be to minimise daily risks to producers and consumers, which is possible with modest investments. Awareness raising, promoting use of various health-protection measures during production and marketing, and improving institutional coordination are intermediate options for risk-management (IWMI, Water Policy Briefing Series, Issue 17; www.iwmi.cgiar.org/waterpolicybriefing/index.asp).
|
Phiên bản:
Lần Download: 308
Kích thước File: 0 bytes
Hệ điều hành: None
Trang chủ: Not Specified
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Hội nghị nuôi biển
|
Market of marine cultured species
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nvkhanh
|
Ngày gửi:
15/07/2006 |
| |
By Niels Svennevig
The talk will discuss some basic elements on methodology for developing market-based marine aquaculture i.e. issues related to developing a ‘business plan’. This will be detailed with regard to marine fish farming, though some overall observations also will be made for molluscs. The major difference between producing the two species group marketwise is that cultured marine fish is less and less in competition with capture fisheries production while mollusc still is quite integrated with fisheries both in competition (product segments) and in rearing methodologies. This is among others seen by the mollusc to a much bigger extend is supplementing the fisheries as a source for raw material for processing.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 254
Kích thước File: 101.28 KB
Hệ điều hành: None
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Tài liệu khuyến ngư
|
Một số kiểu lồng nuôi thủy sản biển
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
14/07/2006 |
| |
Giới thiệu một số kiẻu lồng nuôi biển
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 447
Kích thước File: 0 bytes
Hệ điều hành: None
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Công nghệ nuôi thương phẩm
|
MÙA VỤ NUÔI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) TRONG AO ĐẤT VÀ TRON
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
06/07/2006 |
| |
Lê Minh Toán, Bùi Huy Cộng
Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, thịt thơm ngon. Đây là một trong những loài cá nước ngọt có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn của các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cá Tra phân bố và được nuôi phổ biến ở các nước Malaysia, Indonesia và lưu vực sông Mê Kông, Thái lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở Việt Nam chúng phân bố tự nhiên ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cá Tra không phân bố tự nhiên khu vực miền Bắc, nơi có khí hậu lạnh vào mùa đông. Nhiệt độ mùa hè ở miền Bắc là điều kiện tốt để nuôi đối tượng này nhưng vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp, cá ngừng tăng trưởng, tỷ lệ chết cao. Miền Bắc có tiềm năng nuôi nước ngọt lớn, ngoài diện tích ao hồ cho nuôi cá nước ngọt là 111 938 ha (Bộ thuỷ sản, 1996) phải kể đến tiềm năng lớn về diện tích hồ chứa với 539 hồ có tổng diện tích 251.549 ha, là nơi có điều kiện thuận lợi phát triển Cá Tra.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 574
Kích thước File: 323.51 KB
Hệ điều hành: None
Trang chủ: Not Specified
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Môi trường và Dịch bệnh
|
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NUÔI SINH KHỐI PLANKTON PH
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
06/07/2006 |
| |
Đỗ Xuân Hải
Nuôi sinh khối plankton là một khâu kĩ thuật quan trọng trong nuôi trồng thuỷ sản. Đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất giống nhuyễn thể, cá biển…plankton được coi là yếu tố kĩ thuật quan trọng cho sự thành công của qui tŕnh sản xuất giống. Trong tự nhiên Plankton phân bố ở khắp các loại h́nh thuỷ vực và là nguồn thức ăn chính của các loài thuỷ sinh trong thuỷ vực. Tuy nhiên, sự phân bố của chúng trong tự nhiên rất thấp và mật độ lại biến động mạnh theo ngày và theo mùa nên chúng ta rất khó sử dụng nguồn này trong sản xuất giống.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 403
Kích thước File: 293.74 KB
Hệ điều hành: None
Trang chủ: Not Specified
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Công nghệ sản xuất giống
|
Một số kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất gi̔
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
27/06/2006 |
| |
Nguyễn Văn Chung, Huỳnh Minh Sang, Hà Lê Thị Lộc Viện Hải dương học Nha Trang
Trong những năm qua nghề nuôi tôm ở nước ta đă có những bước phát triển đáng kể nhưng vẫn c̣n mang tính tự phát và chủ yếu là nuôi tôm sú (Penaeus monodon). Việc phát triển nuôi tôm không theo qui hoạch đă gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, làm tổn hại đến kinh tế. Nuôi xen canh nhiều đối tượng là một trong những biện pháp hạn chế dịch bệnh, giảm rủi ro cho người sản xuất. Chính v́ thế, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo các đối tượng nuôi trồng mới để nuôi luân canh với tôm sú là việc làm cấp thiết. Điều này không những góp phần đa dạng hóa sản phẩm hải sản mà c̣n góp phần giảm sức ép về nhu cầu tôm sú thành thục vốn đang khan hiếm.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 592
Kích thước File: 104.52 KB
Hệ điều hành: None
Trang chủ: Not Specified
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
Chuyên mục: Công nghệ sản xuất giống
|
Một số kết quả bước đầu nghiên cứu sinh sả
|
Xem chi tiết
|
|
| Submitter: nghia
|
Ngày gửi:
27/06/2006 |
| |
Lê Trọng Phấn, Cao Văn Nguyện Viện Hải dương học Nha Trang
Năm 2002, ngành Thủy sản Việt Nam đă đạt được những thành tựu rực rỡ, Tổng sản lượng của ngành ước tính đạt khoảng 2,4 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu hơn 2 tỷ đô la, đứng thứ hai sau ngành dầu khí. Trước những thắng lợi đó, chúng ta c̣n phải lo về tính ổn định của những con số vừa nêu trên, v́ nguồn lợi cá khai thác ở vùng biển nước ta đă đạt tới ngưỡng, thậm chí nhiều địa phương đă đánh bắt quá mức ở vùng nước từ 50 mét trở vào bờ. Trước t́nh h́nh đó nhà nước đă đề ra chủ trương đánh bắt xa bờ và phát triển ngành nuôi là hoàn toàn có cơ sở. Về phát triển ngành nuôi trồng, đặc biệt là các loài hải sản, thực tiễn cho thấy: Thứ nhất, đẩy lùi áp lực khai thác ở vùng gần bờ. Thứ hai, đă sử dụng được mặt nước rộng. Thứ ba, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, trong 2,4 tỷ USD thu được từ xuất khẩu, tỷ lệ nghề nuôi chiếm ưu thế. Tuy nhiên tính bền vững của phát triển nuôi hải sản cần lưu ư đến các khâu giống, pḥng bệnh, quy hoạch để giảm rủi ro cho người nuôi.
|
Phiên bản: 0
Lần Download: 375
Kích thước File: 138.38 KB
Hệ điều hành: None
Trang chủ: Not Specified
Đánh giá: (0 Đánh giá)
|
|
|