Bạch Thị Tuyết Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
Giải pháp phát triển giống: - Mạng lưới giống thuần, gốc (Quốc gia, tỉnh) - Phát triển trại giống: hỗn hợp và đơn tính - Bổ sung cá bố mẹ, ổn định công nghệ - Khuyến khích tác nhân sản xuất giống - Chọn tạo giống tốt: chịu mặn, mùa đông, philê - Xây dựng thương hiệu, chứng chỉ giống
Phan Thị Vân Trung tâm nghiên cứu, quan trắc cảnh báo môi trường và pḥng ngừa dịch bệnh miền bắc
Sự cần thiết của chiến lược quốc gia quản lư sức khỏe đvts • Cần có “kế hoạch hành động” của quốc gia để có kế hoạch hoạt động phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn nhằm đảm bảo sức khỏe cho cá nuôi • Kế hoạch hành động phải có khả năng thực thi dựa trên hướng ưu tiên và khả năng của đất nước
Mai Văn Tài, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
1. Tầm quan trọng của Quản lư Chất lượng nước trong NTTS. 2. Các thông số Môi trường nước cần thiết phải quan tâm trong NTTS. 3. Phương pháp quản lư các thông số Chất lượng nước trong NTTS: Nhiệt độ, pH, Độ trong, NO2, NO3, NH3-NH4, PO4, COD, BOD,H2S. 4. Quản lư Chất lượng nước trong các phương thức nuôi, loài nuôi, công nghệ nuôi khác nhau. 5. Kỹ thuật phân chất lượng nước trong pḥng thí nghiệm 6. Đi thực tế thăm mô h́nh quản lư nước bằng công nghệ hệ lọc sinh học ở Hải Dương, Nam định, Thanh hoá, Hải pḥng và Nghệ An.
Nguyễn Thị Hà, Trung tâm quan trắc cảnh báo Môi trường Dịch bệnh Thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
Một số khái niệm và vấn đề chung 1. Phương pháp chẩn đoán bệnh 2.Tại sao phải pḥng bệnh cho cá 3.Biện pháp pḥng bệnh tổng hợp 4.Một số bệnh thường gặp trên cá nuôi 6. Một số bệnh thường gặp trên tôm nuôi 7. Thảo luận
DỰ ÁN NORAD - Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
NHỮNG THIỆT HẠI DO BỆNH LÊN NGHỀ NUÔI CÁ BIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
Thái lan: 1989 dịch bệnh trên cá Mú, cá Chẽm gây thiệt hại 1,9 triệu USD. Hàng năm có tới 80% người nuôi báo cáo là dịch bệnh gây chết 30-50% sản lượng cá Nhật bản 1992: thiệt hại tới 114,4 triệu USD Malaysia dịch bệnh do vibrio làm thiệt hại 20 triệu Ringit năm 1992 1993 ở Singapore chỉ riêng 2 trại nuôi cá biển bị bệnh đă thiệt hại 360.000 USD Philipin, thông thường khoảng 75% trại nuôi cá biển bị bệnh hàng năm
Đinh Văn Thành, Phạm Văn Trang, Lê Thanh Lựu Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
Hiện nay, tỉnh Phú Thọ đă căn bản giải quyết an toàn lương thực, b́nh quân lương thực trên đầu người là 310 kg/năm. Diện tích mặt nước có thể nuôi thủy sản chiếm khoảng 11% đất nông nghiệp bao gồm các loại h́nh thủy vực như ao gia đ́nh, ruộng trũng và hệ thống hồ chứa vừa và nhỏ dày đặc phục vụ cho thuỷ lợi địa phương. Có thể nói diện tích và loại h́nh mặt nước nuôi thủy sản của tỉnh Phú Thọ có ưu thế đặc biệt so với nhiều địa phương khác, kể cả những địa phương đồng bằng. Tuy nhiên, trong vài thập niên qua, một phần do phải tập trung những nỗ lực để giải quyết những vấn đề nóng bỏng khác của địa phương, một phần do chuyển đổi cơ chế quản lư, nên phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Phú Thọ chưa có cơ hội để đạt được những thành tựu đáng kể, tương xứng với tiềm năng sẵn có của ḿnh. Hiện tại, nghề nuôi thủy sản của tỉnh chủ yếu là tự phát nhằm cung cấp một phần thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh; dẫn đến năng suất, sản lượng chưa cao, chưa đa dạng hóa loài nuôi. Trên địa bàn của tỉnh chưa có vùng nuôi cá tập trung tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn.
Theo Arnstein (1969), các h́nh thức quản lư khác nhau nằm trong hai h́nh thức cơ bản là quản lư hành chính nhà nước và quản lư cộng đồng. Ngoài ra đồng quản lư hay quản lư nguồn lợi dựa vào cộng đồng (QLNLDVCĐ) là h́nh thức quản lư trung gian giữa hai h́nh thức trên. QLNLDVCĐ là một h́nh thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lư và lợi ích (Pomerroy, 1995). Cả hai h́nh thức quản lư và quản lư cộng đồng thuần tuư đều có lợi ích và hạn chế riêng, đôi khi không thể dung hoà hay đánh đổi được. V́ thế, cần một h́nh thức quản lư kết hợp hài ḥa các lợi ích, sự phối hợp và khả năng của cộng đồng cũng như các kỹ năng về khoa học kỹ thuật, công nghệ và quản lư của các tổ chức nhà nước. Đó là h́nh thức quản lư dựa vào cộng đồng. Hiệu quả quản lư sẽ được nâng cao khi có sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi và các bên liên quan trong việc quản lư (Pomeroy, 2000 và VEEM, 2002).